Thứ Tư, 30 tháng 10, 2013

con đường đến trường- tặng Loan CDSP Vinh Long

http://www.youtube.com/v/vf2f0pXYgEY?version=3&autohide=1&autohide=1&showinfo=1&feature=share&autoplay=1&attribution_tag=BWJNa2npHB3-brB_FtNUGw

Thứ Hai, 28 tháng 10, 2013

Thứ Sáu, 25 tháng 10, 2013

Thứ Bảy, 31 tháng 8, 2013

một lần nậm pịa với Bua Khưa

MỘT LẦN NẬM PỊA VỚI BUA KHƯA 5 giờ sáng ngày 21 tháng 5 năm 2007, chúng tôi chia tay Hội Văn học Nghệ thuật Sơn La, thẳng tiến lên Điện Biên. Trời Tây Bắc, không hiểu sao, mới tháng 5 đã buông mưa liên tục suốt mấy ngày liền, kể từ khi đoàn chúng tôi ra tới Hà Nội, rồi lên Hòa Bình. Hôm nay cũng vậy. Buổi sáng hơi núi bốc lên ngùn ngụt, con đường cứ chìm đi trong sương, bồng bềnh bồng bềnh. Đến 9 giờ thì một cơn mưa dội xuống ào ào như trút nước. Kiểu này, không khéo lại kẹt cứng giữa đường vì đá lăn đất lở. Quả nhiên lên gần tới đỉnh đèo Pha Đinh thì kẹt cứng. Cả một đoàn, vừa xe khách vừa xe tải, ùn cả lại một đống. Người ta đã điều đến mấy chiếc xe ủi, mấy chiếc máy xúc, hì hục gầm rú làm việc suốt từ hừng đông, nhưng dự kiến cũng phải tới trưa, may ra mới thông đường được. Không biết làm gì, tôi cùng Thu Nguyệt, Nguyễn Ngọc Tư, Ngô Khắc tài, Kim Ba, Vũ Hồng, Trần Thôi, Song Hảo, Nguyễn Lập Em, Anh Đào, thả bộ xuống bản Nà Lầu(Mường É), lang thang giết thời gian. Đến gần trưa, nghe tiếng súng bắn báo thông đường, tất cả nhảy cẩng lên vì sướng, bởi ai cũng lo phải ngủ qua đêm trên đỉnh đèo. Để giành giật lại thời gian bị mất, tài xế nhấn ga, ngốn đường đèo quanh co ào ào, thấy bắt chóng mặt. Nhưng nhờ vậy, khi đến Mường Phăng, chúng tôi vẫn còn tranh thủ vào thăm căn cứ chỉ huy chiến dịch Điện Biên Phủ của Đại tướng Võ Nguyên Giáp, và tướng Hoàng Đạo Thúy(cố vấn quân sự của hồng quân Trung Quốc), được hơn hai tiếng. 15g45 chiều hôm ấy, chúng tôi đặt chân lên thành phố Điện Biên. Nhận xong phòng, mặc cho mọi người lo tắm rửa và nghỉ ngơi, tôi một mình xách máy đi lang thang chụp ảnh. Tôi chụp cho đến lúc đầy ắp cái thẻ 2Gb thì trở về. Và ngay lúc ấy, tôi đã đến một tiệm net để đổ ảnh vào cái ổ cứng rời 250 Gb. Anh chàng đứng máy là sinh viên làm thêm, thế nào đó lại nhận ra tôi, nhờ đọc các truyện ngắn của tôi trên tuần báo văn nghệ trung ương. Mừng quá, anh ta cứ rối lên. “Để cháu làm cho chú. Cháu thích giọng văn của chú lắm”. Nhưng mà khổ, chính vì sự nhiệt tình quá đáng ấy, chàng trai lớ ngớ thế nào, đã làm mất sạch của tôi 2 Gb dữ liệu ảnh. Đứt ruột, nhưng còn biết làm thế nào được. Bù lại, trong bữa cơm tối ở nhà hàng, tôi đã gặp Bua Khưa- Chu Thùy Liên. Em nhận ra tôi, vì tôi với em đã có lần dự Trại sáng tác với nhau ở Hà Nội. Có điều, dạo ấy, được dịp ra Bắc là tôi toàn trốn Trại đi chơi, thành ra tôi cũng ít khi gần gũi chuyện trò với Bua Khưa. Khi nhận ra em, tôi nói. - Bắt tay Bua Khưa cái nào! Nghe vậy, Bua Khưa nắm hai bàn tay lại, đặt lên ngực. - Tay em có tội gì mà anh bắt? Anh có nắm tay em thì nắm. Em đưa bàn tay phải cho tôi. Tay em mềm và ấm. Giọng nói của em cũng mềm và ấm. Cả nụ cười của em cũng mềm và ấm. Đến ánh nhìn cũng vậy, cũng mềm và ấm. Em là Bua Khưa mà. Em là hoa sen trắng của Tây Bắc mà. Bua Khưa. Bua Khưa- Chu Thùy Liên. Người đẹp lung liêng lúng liếng của núi rừng Tây Bắc. Bua Khưa đem đến cho tôi một bát đồ ăn, đầy ắp món gì đấy, nhìn sánh lên màu xanh đen, bốc thơm mùi gừng, mùi mắc khén, mùi húng lìu, mùi thảo quả. - Nậm pịa đấy. Anh phải ăn cho hết để giữ cái bụng tốt, để vui với Nậm Rốm, với Mường Thanh, với Điện Biên, với Bua Khưa. Bua Khưa mời đấy! À, ra đây là nậm pịa. Nghe nói từ hồi nảo hồi nào, tới giờ mới được Bua Khưa mời ăn. Mà... sao nó đắng thế nhỉ. Lại lổn nhổn nào lòng, nào dạ dày, nào cuống tim, nào huyết, nào những gì gì ấy. - Nậm pịa dê núi Điện Biên đấy. Ăn nó để không bị ngã nước đấy. Ăn nó tốt cho cái bụng lắm đấy. Vậy thì ăn. Bua Khưa nói dẻo như nếp nương Mường Lay, nói thơm như rượu San Lùng, nói đẹp như người La Hủ, nói hay như đồng đất Ô Quy Hồ, nói mềm như suối Mường Hum, nói ấm như mây trắng Mã Kì Hồ. Không ăn thì uổng lời ấm áp, lời mềm mại của Bua Khưa biết mấy. Ăn vào mới biết, nậm pịa sau đắng là ngọt, sau nồng nàn lá thấm đậm, sau bốc khói ngùn ngụt là lắng lại, của tình đất tình người. Của Bua Khưa- Chu Thùy Liên- thành phố Điện Biên. Của Bua Khưa hoa sen tây Bắc. Bua Khưa ơi, anh sẽ đem theo tình em về đồng bằng châu thổ nha em ! Dzu- htt Chu Thùy Liên & Nguyễn Ngoc Tư Photo: MỘT LẦN NẬM PỊA VỚI BUA KHƯA 5 giờ sáng ngày 21 tháng 5 năm 2007, chúng tôi chia tay Hội Văn học Nghệ thuật Sơn La, thẳng tiến lên Điện Biên. Trời Tây Bắc, không hiểu sao, mới tháng 5 đã buông mưa liên tục suốt mấy ngày liền, kể từ khi đoàn chúng tôi ra tới Hà Nội, rồi lên Hòa Bình. Hôm nay cũng vậy. Buổi sáng hơi núi bốc lên ngùn ngụt, con đường cứ chìm đi trong sương, bồng bềnh bồng bềnh. Đến 9 giờ thì một cơn mưa dội xuống ào ào như trút nước. Kiểu này, không khéo lại kẹt cứng giữa đường vì đá lăn đất lở. Quả nhiên lên gần tới đỉnh đèo Pha Đinh thì kẹt cứng. Cả một đoàn, vừa xe khách vừa xe tải, ùn cả lại một đống. Người ta đã điều đến mấy chiếc xe ủi, mấy chiếc máy xúc, hì hục gầm rú làm việc suốt từ hừng đông, nhưng dự kiến cũng phải tới trưa, may ra mới thông đường được. Không biết làm gì, tôi cùng Thu Nguyệt, Nguyễn Ngọc Tư, Ngô Khắc tài, Kim Ba, Vũ Hồng, Trần Thôi, Song Hảo, Nguyễn Lập Em, Anh Đào, thả bộ xuống bản Nà Lầu(Mường É), lang thang giết thời gian. Đến gần trưa, nghe tiếng súng bắn báo thông đường, tất cả nhảy cẩng lên vì sướng, bởi ai cũng lo phải ngủ qua đêm trên đỉnh đèo. Để giành giật lại thời gian bị mất, tài xế nhấn ga, ngốn đường đèo quanh co ào ào, thấy bắt chóng mặt. Nhưng nhờ vậy, khi đến Mường Phăng, chúng tôi vẫn còn tranh thủ vào thăm căn cứ chỉ huy chiến dịch Điện Biên Phủ của Đại tướng Võ Nguyên Giáp, và tướng Hoàng Đạo Thúy(cố vấn quân sự của hồng quân Trung Quốc), được hơn hai tiếng. 15g45 chiều hôm ấy, chúng tôi đặt chân lên thành phố Điện Biên. Nhận xong phòng, mặc cho mọi người lo tắm rửa và nghỉ ngơi, tôi một mình xách máy đi lang thang chụp ảnh. Tôi chụp cho đến lúc đầy ắp cái thẻ 2Gb thì trở về. Và ngay lúc ấy, tôi đã đến một tiệm net để đổ ảnh vào cái ổ cứng rời 250 Gb. Anh chàng đứng máy là sinh viên làm thêm, thế nào đó lại nhận ra tôi, nhờ đọc các truyện ngắn của tôi trên tuần báo văn nghệ trung ương. Mừng quá, anh ta cứ rối lên. “Để cháu làm cho chú. Cháu thích giọng văn của chú lắm”. Nhưng mà khổ, chính vì sự nhiệt tình quá đáng ấy, chàng trai lớ ngớ thế nào, đã làm mất sạch của tôi 2 Gb dữ liệu ảnh. Đứt ruột, nhưng còn biết làm thế nào được. Bù lại, trong bữa cơm tối ở nhà hàng, tôi đã gặp Bua Khưa- Chu Thùy Liên. Em nhận ra tôi, vì tôi với em đã có lần dự Trại sáng tác với nhau ở Hà Nội. Có điều, dạo ấy, được dịp ra Bắc là tôi toàn trốn Trại đi chơi, thành ra tôi cũng ít khi gần gũi chuyện trò với Bua Khưa. Khi nhận ra em, tôi nói. - Bắt tay Bua Khưa cái nào! Nghe vậy, Bua Khưa nắm hai bàn tay lại, đặt lên ngực. - Tay em có tội gì mà anh bắt? Anh có nắm tay em thì nắm. Em đưa bàn tay phải cho tôi. Tay em mềm và ấm. Giọng nói của em cũng mềm và ấm. Cả nụ cười của em cũng mềm và ấm. Đến ánh nhìn cũng vậy, cũng mềm và ấm. Em là Bua Khưa mà. Em là hoa sen trắng của Tây Bắc mà. Bua Khưa. Bua Khưa- Chu Thùy Liên. Người đẹp lung liêng lúng liếng của núi rừng Tây Bắc. Bua Khưa đem đến cho tôi một bát đồ ăn, đầy ắp món gì đấy, nhìn sánh lên màu xanh đen, bốc thơm mùi gừng, mùi mắc khén, mùi húng lìu, mùi thảo quả. - Nậm pịa đấy. Anh phải ăn cho hết để giữ cái bụng tốt, để vui với Nậm Rốm, với Mường Thanh, với Điện Biên, với Bua Khưa. Bua Khưa mời đấy! À, ra đây là nậm pịa. Nghe nói từ hồi nảo hồi nào, tới giờ mới được Bua Khưa mời ăn. Mà... sao nó đắng thế nhỉ. Lại lổn nhổn nào lòng, nào dạ dày, nào cuống tim, nào huyết, nào những gì gì ấy. - Nậm pịa dê núi Điện Biên đấy. Ăn nó để không bị ngã nước đấy. Ăn nó tốt cho cái bụng lắm đấy. Vậy thì ăn. Bua Khưa nói dẻo như nếp nương Mường Lay, nói thơm như rượu San Lùng, nói đẹp như người La Hủ, nói hay như đồng đất Ô Quy Hồ, nói mềm như suối Mường Hum, nói ấm như mây trắng Mã Kì Hồ. Không ăn thì uổng lời ấm áp, lời mềm mại của Bua Khưa biết mấy. Ăn vào mới biết, nậm pịa sau đắng là ngọt, sau nồng nàn lá thấm đậm, sau bốc khói ngùn ngụt là lắng lại, của tình đất tình người. Của Bua Khưa- Chu Thùy Liên- thành phố Điện Biên. Của Bua Khưa hoa sen tây Bắc. Bua Khưa ơi, anh sẽ đem theo tình em về đồng bằng châu thổ nha em ! Dzu- htt Chu Thùy Liên & Nguyễn Ngoc Tư

Thứ Tư, 4 tháng 4, 2012

chuyện ở núi Mỏ Quạ


CHUYỆN Ở NÚI MỎ QUẠ

(chuyện của một thời)


Lúc còn đóng quân ở Đông Bắc, trong khi chờ tuyển quân đưa vào chiến trường B2 Nam Bộ, có một giai đoạn, tiểu đoàn giao cho tôi phụ trách một tiểu đội gồm toàn tiểu đội trưởng, gọi là tiểu đội khung huấn luyện. Điều đó có nghĩa là, chúng tôi toàn là tiểu đội trưởng với nhau, sống nhàn cư với nhau để chờ đợt đi tuyển quân, thành lập tiểu đoàn tân binh, rồi huấn luyện tác chiến để đưa vào Nam.

Người xưa có câu, nhàn cư vi bất thiện. Chắc chắn tiểu đoàn trưởng biết điều đó, nên cứ sống ở đâu được một hai tuần, ông lại ra lệnh cho chúng tôi dời đi chỗ khác, để tránh chuyện lính tráng ở không bày đặt chuyện mèo mỡ với gái bản, đồng thời cũng để cho chúng tôi rèn lối sống cơ động theo kiểu sống dã chiến. Do chuyện này, có lần tiểu đội của tôi về sống ngay dưới chân đầu một dãy núi, có tên là núi Mỏ Quạ, bởi nó giống như một con quạ, xoãi cánh nằm phủ phục, và cái mỏ nhọn hoắt thì mổ ngay xuống mấy cái nhà đìu hiu nơi chúng tôi đang sống. Về phong thủy, không ai ngu gì lại sống ở một nơi thất địa như thế, bởi vì sống ở đó, thế đất không làm chết người, cũng làm cho khuynh gia bại sản. Quạ mà. Lại là mỏ quạ, nó sẽ lần hồi rỉa đi mạng sống của từng người; chỉ có mấy gia đình ở xuôi mới lên, bất đắc dĩ phải cặm dùi mà sống.

Nguyên tắc nhà binh, tiểu đội bao giờ cũng chia thành những tổ ba người, để sống và sinh hoạt. Tiểu đội khung của tôi có tất cả mười lăm tiểu đội trưởng, được chia làm năm tổ, tổ của tôi có Mỗ quê Hải Dương, và Trường quê ở Hà Bắc. Mỗ học hết lớp bảy, mới thi vào trường y tá chưa được một năm thì đi nghĩa vụ. Trường học xong lớp mười, thi rớt đại học nên đi lính. Tôi là sinh viên năm thứ nhất đại học Mỏ - Địa chất. Chúng tôi trọ trong gia đình một bà giá tuổi chừng hơn năm mươi, có hai cô con gái tuổi đôi mươi mười tám. Trong ba mẹ con, người được gọi là nhan sắc giòn dã nhất, lại chính là người mẹ, chứ không phải hai cô gái còn trẻ. Ngôi nhà của họ là nhà tranh ba gian, vách là khung tre trát đất đỏ trộn với rơm. Hai bên cái bàn thờ tuềnh toàng là hai cái buồng, buồng bên phải nhìn vào là buồng của người mẹ, hai cô gái sống với nhau trong cái buồng còn lại, ba người lính chúng tôi ngủ trên hai bộ ngựa ở phía ngoài. Và tất nhiên, chúng tôi chẳng có việc gì để làm, ngoại trừ việc thỉnh thoảng đi lấy củi đem về cho tiểu đội nấu cơm. Việc nấu cơm là do tiểu đội phó phụ trách, hàng ngày phân người đi chợ, và cử người lo nấu nướng, chúng tôi chỉ có việc, đến buổi là kéo qua nhà tiểu đội phó ăn cơm. Cả xóm mới ở đầu núi Mỏ Quạ này, chỉ có gần chục ngôi nhà, ở rải rác, cách xa nhau từ vài chục mét đến vài trăm mét, lại toàn là đàn bà với trẻ con. Xin nói rõ, hồi đó ở Miền Bắc rất hiếm đàn ông, vì con trai cứ lớn lên là đi lính, rồi vào chết ở chiến trường Miền Nam, hay chiến trường Lào và Kampuchia. Vì điều này, khi tiểu đội khung của tôi đến đồn trú, cả xóm mới vốn đìu hiu, bỗng trở nên có sinh khí hẳn ra, là nhờ có hơi hướm đàn ông của lính. Tôi biết rõ, lính tráng không bao giờ bỏ lỡ những cơ hội vàng như thế, với những người đàn bà mòn mỏi trong nỗi thèm khát đàn ông, vì họ, hoặc là chồng đã có giấy báo tử, hoặc là bằn bặt tin chồng, không biết chết sống thế nào ngoài mặt trận. Nhiệm vụ quan trọng hàng đầu mà chính trị viên tiểu đoàn giao cho tôi, là phải bằng mọi cách, ngăn chặn không cho lính tráng đi o mèo.

Nhiệm vụ được giao là thế, nhưng tôi ngăn thế nào được, khi tất cả mười lăm người đều là tiểu đội trưởng như tôi, mà trong đó, nhiều người có thâm niên tiểu đội trưởng đã hai ba năm, hơn hẳn tôi về tuổi tác và kinh nghiệm sống. Có điều, được cấp trên tin cậy giao phó, tất nhiên tôi phải nêu gương nghiêm túc thì mới hy vọng ngăn được anh em lúc nào cũng lăm le chuyện o mèo. Chính Mỗ và Trường đã nhiều lần nói với tôi, ngu gì nhịn đói, để rồi vào chiến trường chết khát, không biết cái đó nó dọc ngang thế nào. Họ nói thế, có nghĩa họ tuyên bố không chịu khuất phục số phận, trong khi đám đàn bà con gái, lúc nào cũng hừng hực dâng hiến. Tôi nói điều này, những người thuộc thế hệ chúng tôi, chắc chắn đều biết. Vào cái thời Miền Bắc, vừa phải đánh trả cuộc chiến tranh đường không của Mĩ, vừa phải huấn luyện đưa quân vào chiến trường, chuyện trai gái mèo mỡ là chuyện cấm kị số một, được coi là xấu xa số một; tuy nhiên thực tế cuộc sống vẫn là thực tế, chẳng có ông ba đầu sáu tay nào đủ phép thuật tài ba mà ngăn chặn được cả, kể cả các vị chỉ huy tiểu đoàn mà tôi được biết. Đúng ra, các ông ấy còn tợn hơn nhiều. Tình tang tình em đi rình trung úy mà. Ai chả biết thế. Cứ súng lục bên hông là đàn bà con gái theo nườm nượp.

Khi ba anh em chúng tôi đến trọ trong ngôi nhà héo lánh, bà chủ nhà đã nói với tôi, khu đất này ma quỷ nhiều lắm, nhà bà lại ngay đúng nơi mỏ quạ mổ xuống, vì thế, hai đứa con trai nhỏ của bà đều đã chết từ khi lên mười, còn chồng bà thì chết trận ở chiến trường Quảng Trị. Bà còn nói thêm, đừng có vác chõng ra nằm ở hiên nhà, vì nằm ở đó thế nào cũng bị bóng đè; và, ban đêm mà thấy đất đá từ ngoài ném vào vườn, vào nhà, thì đó không phải là người ném, mà là ma ném, cứ lờ đi cho xong chuyện, chớ dại dính vào mà lụy đến mạng sống.

Là sinh viên, nên tôi không tin vào những chuyện mê tín dị đoan, vào một buổi trưa, tôi đã vác cái chõng tre ra góc hiên nằm ngủ, quả nhiên là tôi bị bóng đè thật. Đang ngủ, tự nhiên tôi thấy tức ngực và nghẹt thở, rồi thấy cái chõng nghiêng hẳn về một bên, nên tôi phải gồng người lật lại, vì thế tôi bị rớt bịch xuống đất mới tỉnh. Tỉnh dậy, tôi lại leo lên chõng nằm ngủ, và cảnh ấy lại tái diễn. Sau ba lần như thê, tôi cạch hẳn, không còn dám nghĩ vác chõng ra hàng hiên nằm ngủ.

Chúng tôi đến gia đình bà góa vào buổi sáng, buổi chiều tôi đã thấy Mỗ cò kè với cô chị gái hăm hai tuổi ở ngoài đồi sim. Sáng hôm sau đến lượt Trường dẫn cô em gái hai mốt tuổi đi đâu mất tăm mất tích, bỏ cả cơm trưa không ăn. Được vài ngày thì họ dính thành cặp, cứ xong cơm chiều là kéo nhau lủi đi mất dạng. Ở nhà chỉ còn có tôi và bà chủ mà tôi gọi là thím Hương, và xưng cháu, bởi lẽ tôi cũng chỉ đáng tuổi con cháu của bà. Vào một đêm mà Mỗ và Trường đã dẫn hai cô con gái đi đâu đó, khoảng hơn tám giờ tối, tự nhiên tôi nghe tiếng đất đá ném vào vườn rào rào, liền bấm đèn pin ra xem có chuyện gì. Khi tôi bước ra sân quét đèn thì tiếng đất đá không còn nghe nữa, nhưng khi tôi trở vào, lại nghe tiếng đất đá rớt lịch bịch trước sân. Chuyện đó cứ diễn ra hai ba lần, khiến tôi cũng thấy rờn rợn.

Thím Hương trong buồng bước ra nói:

- Kệ thây nó. Ma ném đá đấy, em sợ thì vào trong buồng với chị.

Ôi trời! Tôi hết cả hồn vía. Ai đời người đàn bà hơn bốn mươi tuổi lại gọi tôi bằng em, lại rủ tôi vào buồng nằm ngủ. Đã thế, lúc ấy thím lại mặc cái áo cánh phin, dưới ánh đèn dầu tờ mờ, tôi nhìn thấy rõ cả hai bầu ngực ngồn ngộn. Hoảng qúa, tôi lấy cớ phải đi kiểm tra tiểu đội, liền khoác khẩu AK lên vai, rồi xách đèn pin ra đi. Bình thường, tôi chẳng biết sợ mà là gì, nhưng đêm hôm ấy, tự nhiên tôi thấy hồi hộp kì lạ; chẳng phải vì tôi sợ ma, mà vì tôi cứ nhớ tới hai bầu ngực căng vồng và câu nói của thím Hương. Ở đâu lại ra một người đàn bà như thế nhỉ, ngoài bốn mươi mà vẫn còn đẹp hây hẩy.

Loanh quanh một lúc rồi tôi cũng phải về. Mỗ và Trường đã ngủ ở bộ ngựa bên kia. Họ ngủ trong cái màn vải cáu bẩn màu nâu đất của bà chủ nhà cho mượn. Còn tôi thì giăng cái màn tuyn Liên xô để ngủ. Đêm rừng Đông Bắc lành lạnh, nên nằm xuống một lúc thì tôi ngủ thiếp đi. Thế rồi tôi mơ thấy chuyện ấy. Tôi thấy mình đang ngồi với Phụng, chúng tôi ôm chặt lấy nhau và hôn nhau thật đắm đuối; rồi chúng tôi từ từ đổ xuống vệ cỏ bên bờ sông Công. Đây là chuyện mà từ khi quen nhau, tôi không bao giờ dám nghĩ tới, bởi vậy tôi run bần bật, toàn thân căng ra như có lửa ở bên trong. Mở choàng mắt ra, tôi nhận thấy thím Hương ngay bên cạnh, trắng ngồn ngộn. Lạ nhất là tôi cũng A Đam bên cạnh bà E Va mà tôi chỉ đáng tuổi con. Giật tay thím ra, tôi ngồi bật dậy, vơ vội quần áo mặc vào. Thím Hương dùng một bàn tay bịt miệng tôi, nói nhỏ hào hển. “Đừng sợ. Không có gì phải sợ. Vào trong buồng với chị đi em!”.

Run như cầy sấy, tôi tụt khỏi bộ ngựa, rón rén bước ra sân, rồi đi thẳng ra con dốc, ngồi tựa xuống một thân cây mà khóc.

Lúc hừng đông bật sáng ưng ửng phía chân trời tôi mới trở về.

Chiều đó, tôi lấy cớ có nhiệm vụ mới, kéo cả tiểu đội đến một nơi ở mới phía bên kia núi Mỏ Quạ, thuộc một bản nhà sàn của người Cao Lan.

Xóm núi đìu hiu Mỏ Quạ, đã trở thành một kỉ niệm rất khó quên.

Dzu- htt