Thứ Bảy, 31 tháng 8, 2013
một lần nậm pịa với Bua Khưa
MỘT LẦN NẬM PỊA VỚI BUA KHƯA
5 giờ sáng ngày 21 tháng 5 năm 2007, chúng tôi chia tay Hội Văn học Nghệ thuật Sơn La, thẳng tiến lên Điện Biên. Trời Tây Bắc, không hiểu sao, mới tháng 5 đã buông mưa liên tục suốt mấy ngày liền, kể từ khi đoàn chúng tôi ra tới Hà Nội, rồi lên Hòa Bình. Hôm nay cũng vậy. Buổi sáng hơi núi bốc lên ngùn ngụt, con đường cứ chìm đi trong sương, bồng bềnh bồng bềnh. Đến 9 giờ thì một cơn mưa dội xuống ào ào như trút nước. Kiểu này, không khéo lại kẹt cứng giữa đường vì đá lăn đất lở.
Quả nhiên lên gần tới đỉnh đèo Pha Đinh thì kẹt cứng. Cả một đoàn, vừa xe khách vừa xe tải, ùn cả lại một đống. Người ta đã điều đến mấy chiếc xe ủi, mấy chiếc máy xúc, hì hục gầm rú làm việc suốt từ hừng đông, nhưng dự kiến cũng phải tới trưa, may ra mới thông đường được. Không biết làm gì, tôi cùng Thu Nguyệt, Nguyễn Ngọc Tư, Ngô Khắc tài, Kim Ba, Vũ Hồng, Trần Thôi, Song Hảo, Nguyễn Lập Em, Anh Đào, thả bộ xuống bản Nà Lầu(Mường É), lang thang giết thời gian.
Đến gần trưa, nghe tiếng súng bắn báo thông đường, tất cả nhảy cẩng lên vì sướng, bởi ai cũng lo phải ngủ qua đêm trên đỉnh đèo. Để giành giật lại thời gian bị mất, tài xế nhấn ga, ngốn đường đèo quanh co ào ào, thấy bắt chóng mặt. Nhưng nhờ vậy, khi đến Mường Phăng, chúng tôi vẫn còn tranh thủ vào thăm căn cứ chỉ huy chiến dịch Điện Biên Phủ của Đại tướng Võ Nguyên Giáp, và tướng Hoàng Đạo Thúy(cố vấn quân sự của hồng quân Trung Quốc), được hơn hai tiếng.
15g45 chiều hôm ấy, chúng tôi đặt chân lên thành phố Điện Biên.
Nhận xong phòng, mặc cho mọi người lo tắm rửa và nghỉ ngơi, tôi một mình xách máy đi lang thang chụp ảnh. Tôi chụp cho đến lúc đầy ắp cái thẻ 2Gb thì trở về. Và ngay lúc ấy, tôi đã đến một tiệm net để đổ ảnh vào cái ổ cứng rời 250 Gb. Anh chàng đứng máy là sinh viên làm thêm, thế nào đó lại nhận ra tôi, nhờ đọc các truyện ngắn của tôi trên tuần báo văn nghệ trung ương. Mừng quá, anh ta cứ rối lên. “Để cháu làm cho chú. Cháu thích giọng văn của chú lắm”. Nhưng mà khổ, chính vì sự nhiệt tình quá đáng ấy, chàng trai lớ ngớ thế nào, đã làm mất sạch của tôi 2 Gb dữ liệu ảnh. Đứt ruột, nhưng còn biết làm thế nào được.
Bù lại, trong bữa cơm tối ở nhà hàng, tôi đã gặp Bua Khưa- Chu Thùy Liên. Em nhận ra tôi, vì tôi với em đã có lần dự Trại sáng tác với nhau ở Hà Nội. Có điều, dạo ấy, được dịp ra Bắc là tôi toàn trốn Trại đi chơi, thành ra tôi cũng ít khi gần gũi chuyện trò với Bua Khưa.
Khi nhận ra em, tôi nói.
- Bắt tay Bua Khưa cái nào!
Nghe vậy, Bua Khưa nắm hai bàn tay lại, đặt lên ngực.
- Tay em có tội gì mà anh bắt? Anh có nắm tay em thì nắm.
Em đưa bàn tay phải cho tôi. Tay em mềm và ấm. Giọng nói của em cũng mềm và ấm. Cả nụ cười của em cũng mềm và ấm. Đến ánh nhìn cũng vậy, cũng mềm và ấm. Em là Bua Khưa mà. Em là hoa sen trắng của Tây Bắc mà. Bua Khưa. Bua Khưa- Chu Thùy Liên. Người đẹp lung liêng lúng liếng của núi rừng Tây Bắc.
Bua Khưa đem đến cho tôi một bát đồ ăn, đầy ắp món gì đấy, nhìn sánh lên màu xanh đen, bốc thơm mùi gừng, mùi mắc khén, mùi húng lìu, mùi thảo quả.
- Nậm pịa đấy. Anh phải ăn cho hết để giữ cái bụng tốt, để vui với Nậm Rốm, với Mường Thanh, với Điện Biên, với Bua Khưa. Bua Khưa mời đấy!
À, ra đây là nậm pịa. Nghe nói từ hồi nảo hồi nào, tới giờ mới được Bua Khưa mời ăn. Mà... sao nó đắng thế nhỉ. Lại lổn nhổn nào lòng, nào dạ dày, nào cuống tim, nào huyết, nào những gì gì ấy.
- Nậm pịa dê núi Điện Biên đấy. Ăn nó để không bị ngã nước đấy. Ăn nó tốt cho cái bụng lắm đấy.
Vậy thì ăn. Bua Khưa nói dẻo như nếp nương Mường Lay, nói thơm như rượu San Lùng, nói đẹp như người La Hủ, nói hay như đồng đất Ô Quy Hồ, nói mềm như suối Mường Hum, nói ấm như mây trắng Mã Kì Hồ. Không ăn thì uổng lời ấm áp, lời mềm mại của Bua Khưa biết mấy. Ăn vào mới biết, nậm pịa sau đắng là ngọt, sau nồng nàn lá thấm đậm, sau bốc khói ngùn ngụt là lắng lại, của tình đất tình người. Của Bua Khưa- Chu Thùy Liên- thành phố Điện Biên. Của Bua Khưa hoa sen tây Bắc.
Bua Khưa ơi, anh sẽ đem theo tình em về đồng bằng châu thổ nha em !
Dzu- htt
Chu Thùy Liên & Nguyễn Ngoc Tư
Photo: MỘT LẦN NẬM PỊA VỚI BUA KHƯA 5 giờ sáng ngày 21 tháng 5 năm 2007, chúng tôi chia tay Hội Văn học Nghệ thuật Sơn La, thẳng tiến lên Điện Biên. Trời Tây Bắc, không hiểu sao, mới tháng 5 đã buông mưa liên tục suốt mấy ngày liền, kể từ khi đoàn chúng tôi ra tới Hà Nội, rồi lên Hòa Bình. Hôm nay cũng vậy. Buổi sáng hơi núi bốc lên ngùn ngụt, con đường cứ chìm đi trong sương, bồng bềnh bồng bềnh. Đến 9 giờ thì một cơn mưa dội xuống ào ào như trút nước. Kiểu này, không khéo lại kẹt cứng giữa đường vì đá lăn đất lở. Quả nhiên lên gần tới đỉnh đèo Pha Đinh thì kẹt cứng. Cả một đoàn, vừa xe khách vừa xe tải, ùn cả lại một đống. Người ta đã điều đến mấy chiếc xe ủi, mấy chiếc máy xúc, hì hục gầm rú làm việc suốt từ hừng đông, nhưng dự kiến cũng phải tới trưa, may ra mới thông đường được. Không biết làm gì, tôi cùng Thu Nguyệt, Nguyễn Ngọc Tư, Ngô Khắc tài, Kim Ba, Vũ Hồng, Trần Thôi, Song Hảo, Nguyễn Lập Em, Anh Đào, thả bộ xuống bản Nà Lầu(Mường É), lang thang giết thời gian. Đến gần trưa, nghe tiếng súng bắn báo thông đường, tất cả nhảy cẩng lên vì sướng, bởi ai cũng lo phải ngủ qua đêm trên đỉnh đèo. Để giành giật lại thời gian bị mất, tài xế nhấn ga, ngốn đường đèo quanh co ào ào, thấy bắt chóng mặt. Nhưng nhờ vậy, khi đến Mường Phăng, chúng tôi vẫn còn tranh thủ vào thăm căn cứ chỉ huy chiến dịch Điện Biên Phủ của Đại tướng Võ Nguyên Giáp, và tướng Hoàng Đạo Thúy(cố vấn quân sự của hồng quân Trung Quốc), được hơn hai tiếng. 15g45 chiều hôm ấy, chúng tôi đặt chân lên thành phố Điện Biên. Nhận xong phòng, mặc cho mọi người lo tắm rửa và nghỉ ngơi, tôi một mình xách máy đi lang thang chụp ảnh. Tôi chụp cho đến lúc đầy ắp cái thẻ 2Gb thì trở về. Và ngay lúc ấy, tôi đã đến một tiệm net để đổ ảnh vào cái ổ cứng rời 250 Gb. Anh chàng đứng máy là sinh viên làm thêm, thế nào đó lại nhận ra tôi, nhờ đọc các truyện ngắn của tôi trên tuần báo văn nghệ trung ương. Mừng quá, anh ta cứ rối lên. “Để cháu làm cho chú. Cháu thích giọng văn của chú lắm”. Nhưng mà khổ, chính vì sự nhiệt tình quá đáng ấy, chàng trai lớ ngớ thế nào, đã làm mất sạch của tôi 2 Gb dữ liệu ảnh. Đứt ruột, nhưng còn biết làm thế nào được. Bù lại, trong bữa cơm tối ở nhà hàng, tôi đã gặp Bua Khưa- Chu Thùy Liên. Em nhận ra tôi, vì tôi với em đã có lần dự Trại sáng tác với nhau ở Hà Nội. Có điều, dạo ấy, được dịp ra Bắc là tôi toàn trốn Trại đi chơi, thành ra tôi cũng ít khi gần gũi chuyện trò với Bua Khưa. Khi nhận ra em, tôi nói. - Bắt tay Bua Khưa cái nào! Nghe vậy, Bua Khưa nắm hai bàn tay lại, đặt lên ngực. - Tay em có tội gì mà anh bắt? Anh có nắm tay em thì nắm. Em đưa bàn tay phải cho tôi. Tay em mềm và ấm. Giọng nói của em cũng mềm và ấm. Cả nụ cười của em cũng mềm và ấm. Đến ánh nhìn cũng vậy, cũng mềm và ấm. Em là Bua Khưa mà. Em là hoa sen trắng của Tây Bắc mà. Bua Khưa. Bua Khưa- Chu Thùy Liên. Người đẹp lung liêng lúng liếng của núi rừng Tây Bắc. Bua Khưa đem đến cho tôi một bát đồ ăn, đầy ắp món gì đấy, nhìn sánh lên màu xanh đen, bốc thơm mùi gừng, mùi mắc khén, mùi húng lìu, mùi thảo quả. - Nậm pịa đấy. Anh phải ăn cho hết để giữ cái bụng tốt, để vui với Nậm Rốm, với Mường Thanh, với Điện Biên, với Bua Khưa. Bua Khưa mời đấy! À, ra đây là nậm pịa. Nghe nói từ hồi nảo hồi nào, tới giờ mới được Bua Khưa mời ăn. Mà... sao nó đắng thế nhỉ. Lại lổn nhổn nào lòng, nào dạ dày, nào cuống tim, nào huyết, nào những gì gì ấy. - Nậm pịa dê núi Điện Biên đấy. Ăn nó để không bị ngã nước đấy. Ăn nó tốt cho cái bụng lắm đấy. Vậy thì ăn. Bua Khưa nói dẻo như nếp nương Mường Lay, nói thơm như rượu San Lùng, nói đẹp như người La Hủ, nói hay như đồng đất Ô Quy Hồ, nói mềm như suối Mường Hum, nói ấm như mây trắng Mã Kì Hồ. Không ăn thì uổng lời ấm áp, lời mềm mại của Bua Khưa biết mấy. Ăn vào mới biết, nậm pịa sau đắng là ngọt, sau nồng nàn lá thấm đậm, sau bốc khói ngùn ngụt là lắng lại, của tình đất tình người. Của Bua Khưa- Chu Thùy Liên- thành phố Điện Biên. Của Bua Khưa hoa sen tây Bắc. Bua Khưa ơi, anh sẽ đem theo tình em về đồng bằng châu thổ nha em ! Dzu- htt Chu Thùy Liên & Nguyễn Ngoc Tư
Thứ Tư, 4 tháng 4, 2012
chuyện ở núi Mỏ Quạ
CHUYỆN Ở NÚI MỎ QUẠ
(chuyện của một thời)
Lúc còn đóng quân ở Đông Bắc, trong khi chờ tuyển quân đưa vào chiến trường B2 Nam Bộ, có một giai đoạn, tiểu đoàn giao cho tôi phụ trách một tiểu đội gồm toàn tiểu đội trưởng, gọi là tiểu đội khung huấn luyện. Điều đó có nghĩa là, chúng tôi toàn là tiểu đội trưởng với nhau, sống nhàn cư với nhau để chờ đợt đi tuyển quân, thành lập tiểu đoàn tân binh, rồi huấn luyện tác chiến để đưa vào Nam.
Người xưa có câu, nhàn cư vi bất thiện. Chắc chắn tiểu đoàn trưởng biết điều đó, nên cứ sống ở đâu được một hai tuần, ông lại ra lệnh cho chúng tôi dời đi chỗ khác, để tránh chuyện lính tráng ở không bày đặt chuyện mèo mỡ với gái bản, đồng thời cũng để cho chúng tôi rèn lối sống cơ động theo kiểu sống dã chiến. Do chuyện này, có lần tiểu đội của tôi về sống ngay dưới chân đầu một dãy núi, có tên là núi Mỏ Quạ, bởi nó giống như một con quạ, xoãi cánh nằm phủ phục, và cái mỏ nhọn hoắt thì mổ ngay xuống mấy cái nhà đìu hiu nơi chúng tôi đang sống. Về phong thủy, không ai ngu gì lại sống ở một nơi thất địa như thế, bởi vì sống ở đó, thế đất không làm chết người, cũng làm cho khuynh gia bại sản. Quạ mà. Lại là mỏ quạ, nó sẽ lần hồi rỉa đi mạng sống của từng người; chỉ có mấy gia đình ở xuôi mới lên, bất đắc dĩ phải cặm dùi mà sống.
Nguyên tắc nhà binh, tiểu đội bao giờ cũng chia thành những tổ ba người, để sống và sinh hoạt. Tiểu đội khung của tôi có tất cả mười lăm tiểu đội trưởng, được chia làm năm tổ, tổ của tôi có Mỗ quê Hải Dương, và Trường quê ở Hà Bắc. Mỗ học hết lớp bảy, mới thi vào trường y tá chưa được một năm thì đi nghĩa vụ. Trường học xong lớp mười, thi rớt đại học nên đi lính. Tôi là sinh viên năm thứ nhất đại học Mỏ - Địa chất. Chúng tôi trọ trong gia đình một bà giá tuổi chừng hơn năm mươi, có hai cô con gái tuổi đôi mươi mười tám. Trong ba mẹ con, người được gọi là nhan sắc giòn dã nhất, lại chính là người mẹ, chứ không phải hai cô gái còn trẻ. Ngôi nhà của họ là nhà tranh ba gian, vách là khung tre trát đất đỏ trộn với rơm. Hai bên cái bàn thờ tuềnh toàng là hai cái buồng, buồng bên phải nhìn vào là buồng của người mẹ, hai cô gái sống với nhau trong cái buồng còn lại, ba người lính chúng tôi ngủ trên hai bộ ngựa ở phía ngoài. Và tất nhiên, chúng tôi chẳng có việc gì để làm, ngoại trừ việc thỉnh thoảng đi lấy củi đem về cho tiểu đội nấu cơm. Việc nấu cơm là do tiểu đội phó phụ trách, hàng ngày phân người đi chợ, và cử người lo nấu nướng, chúng tôi chỉ có việc, đến buổi là kéo qua nhà tiểu đội phó ăn cơm. Cả xóm mới ở đầu núi Mỏ Quạ này, chỉ có gần chục ngôi nhà, ở rải rác, cách xa nhau từ vài chục mét đến vài trăm mét, lại toàn là đàn bà với trẻ con. Xin nói rõ, hồi đó ở Miền Bắc rất hiếm đàn ông, vì con trai cứ lớn lên là đi lính, rồi vào chết ở chiến trường Miền Nam, hay chiến trường Lào và Kampuchia. Vì điều này, khi tiểu đội khung của tôi đến đồn trú, cả xóm mới vốn đìu hiu, bỗng trở nên có sinh khí hẳn ra, là nhờ có hơi hướm đàn ông của lính. Tôi biết rõ, lính tráng không bao giờ bỏ lỡ những cơ hội vàng như thế, với những người đàn bà mòn mỏi trong nỗi thèm khát đàn ông, vì họ, hoặc là chồng đã có giấy báo tử, hoặc là bằn bặt tin chồng, không biết chết sống thế nào ngoài mặt trận. Nhiệm vụ quan trọng hàng đầu mà chính trị viên tiểu đoàn giao cho tôi, là phải bằng mọi cách, ngăn chặn không cho lính tráng đi o mèo.
Nhiệm vụ được giao là thế, nhưng tôi ngăn thế nào được, khi tất cả mười lăm người đều là tiểu đội trưởng như tôi, mà trong đó, nhiều người có thâm niên tiểu đội trưởng đã hai ba năm, hơn hẳn tôi về tuổi tác và kinh nghiệm sống. Có điều, được cấp trên tin cậy giao phó, tất nhiên tôi phải nêu gương nghiêm túc thì mới hy vọng ngăn được anh em lúc nào cũng lăm le chuyện o mèo. Chính Mỗ và Trường đã nhiều lần nói với tôi, ngu gì nhịn đói, để rồi vào chiến trường chết khát, không biết cái đó nó dọc ngang thế nào. Họ nói thế, có nghĩa họ tuyên bố không chịu khuất phục số phận, trong khi đám đàn bà con gái, lúc nào cũng hừng hực dâng hiến. Tôi nói điều này, những người thuộc thế hệ chúng tôi, chắc chắn đều biết. Vào cái thời Miền Bắc, vừa phải đánh trả cuộc chiến tranh đường không của Mĩ, vừa phải huấn luyện đưa quân vào chiến trường, chuyện trai gái mèo mỡ là chuyện cấm kị số một, được coi là xấu xa số một; tuy nhiên thực tế cuộc sống vẫn là thực tế, chẳng có ông ba đầu sáu tay nào đủ phép thuật tài ba mà ngăn chặn được cả, kể cả các vị chỉ huy tiểu đoàn mà tôi được biết. Đúng ra, các ông ấy còn tợn hơn nhiều. Tình tang tình em đi rình trung úy mà. Ai chả biết thế. Cứ súng lục bên hông là đàn bà con gái theo nườm nượp.
Khi ba anh em chúng tôi đến trọ trong ngôi nhà héo lánh, bà chủ nhà đã nói với tôi, khu đất này ma quỷ nhiều lắm, nhà bà lại ngay đúng nơi mỏ quạ mổ xuống, vì thế, hai đứa con trai nhỏ của bà đều đã chết từ khi lên mười, còn chồng bà thì chết trận ở chiến trường Quảng Trị. Bà còn nói thêm, đừng có vác chõng ra nằm ở hiên nhà, vì nằm ở đó thế nào cũng bị bóng đè; và, ban đêm mà thấy đất đá từ ngoài ném vào vườn, vào nhà, thì đó không phải là người ném, mà là ma ném, cứ lờ đi cho xong chuyện, chớ dại dính vào mà lụy đến mạng sống.
Là sinh viên, nên tôi không tin vào những chuyện mê tín dị đoan, vào một buổi trưa, tôi đã vác cái chõng tre ra góc hiên nằm ngủ, quả nhiên là tôi bị bóng đè thật. Đang ngủ, tự nhiên tôi thấy tức ngực và nghẹt thở, rồi thấy cái chõng nghiêng hẳn về một bên, nên tôi phải gồng người lật lại, vì thế tôi bị rớt bịch xuống đất mới tỉnh. Tỉnh dậy, tôi lại leo lên chõng nằm ngủ, và cảnh ấy lại tái diễn. Sau ba lần như thê, tôi cạch hẳn, không còn dám nghĩ vác chõng ra hàng hiên nằm ngủ.
Chúng tôi đến gia đình bà góa vào buổi sáng, buổi chiều tôi đã thấy Mỗ cò kè với cô chị gái hăm hai tuổi ở ngoài đồi sim. Sáng hôm sau đến lượt Trường dẫn cô em gái hai mốt tuổi đi đâu mất tăm mất tích, bỏ cả cơm trưa không ăn. Được vài ngày thì họ dính thành cặp, cứ xong cơm chiều là kéo nhau lủi đi mất dạng. Ở nhà chỉ còn có tôi và bà chủ mà tôi gọi là thím Hương, và xưng cháu, bởi lẽ tôi cũng chỉ đáng tuổi con cháu của bà. Vào một đêm mà Mỗ và Trường đã dẫn hai cô con gái đi đâu đó, khoảng hơn tám giờ tối, tự nhiên tôi nghe tiếng đất đá ném vào vườn rào rào, liền bấm đèn pin ra xem có chuyện gì. Khi tôi bước ra sân quét đèn thì tiếng đất đá không còn nghe nữa, nhưng khi tôi trở vào, lại nghe tiếng đất đá rớt lịch bịch trước sân. Chuyện đó cứ diễn ra hai ba lần, khiến tôi cũng thấy rờn rợn.
Thím Hương trong buồng bước ra nói:
- Kệ thây nó. Ma ném đá đấy, em sợ thì vào trong buồng với chị.
Ôi trời! Tôi hết cả hồn vía. Ai đời người đàn bà hơn bốn mươi tuổi lại gọi tôi bằng em, lại rủ tôi vào buồng nằm ngủ. Đã thế, lúc ấy thím lại mặc cái áo cánh phin, dưới ánh đèn dầu tờ mờ, tôi nhìn thấy rõ cả hai bầu ngực ngồn ngộn. Hoảng qúa, tôi lấy cớ phải đi kiểm tra tiểu đội, liền khoác khẩu AK lên vai, rồi xách đèn pin ra đi. Bình thường, tôi chẳng biết sợ mà là gì, nhưng đêm hôm ấy, tự nhiên tôi thấy hồi hộp kì lạ; chẳng phải vì tôi sợ ma, mà vì tôi cứ nhớ tới hai bầu ngực căng vồng và câu nói của thím Hương. Ở đâu lại ra một người đàn bà như thế nhỉ, ngoài bốn mươi mà vẫn còn đẹp hây hẩy.
Loanh quanh một lúc rồi tôi cũng phải về. Mỗ và Trường đã ngủ ở bộ ngựa bên kia. Họ ngủ trong cái màn vải cáu bẩn màu nâu đất của bà chủ nhà cho mượn. Còn tôi thì giăng cái màn tuyn Liên xô để ngủ. Đêm rừng Đông Bắc lành lạnh, nên nằm xuống một lúc thì tôi ngủ thiếp đi. Thế rồi tôi mơ thấy chuyện ấy. Tôi thấy mình đang ngồi với Phụng, chúng tôi ôm chặt lấy nhau và hôn nhau thật đắm đuối; rồi chúng tôi từ từ đổ xuống vệ cỏ bên bờ sông Công. Đây là chuyện mà từ khi quen nhau, tôi không bao giờ dám nghĩ tới, bởi vậy tôi run bần bật, toàn thân căng ra như có lửa ở bên trong. Mở choàng mắt ra, tôi nhận thấy thím Hương ngay bên cạnh, trắng ngồn ngộn. Lạ nhất là tôi cũng A Đam bên cạnh bà E Va mà tôi chỉ đáng tuổi con. Giật tay thím ra, tôi ngồi bật dậy, vơ vội quần áo mặc vào. Thím Hương dùng một bàn tay bịt miệng tôi, nói nhỏ hào hển. “Đừng sợ. Không có gì phải sợ. Vào trong buồng với chị đi em!”.
Run như cầy sấy, tôi tụt khỏi bộ ngựa, rón rén bước ra sân, rồi đi thẳng ra con dốc, ngồi tựa xuống một thân cây mà khóc.
Lúc hừng đông bật sáng ưng ửng phía chân trời tôi mới trở về.
Chiều đó, tôi lấy cớ có nhiệm vụ mới, kéo cả tiểu đội đến một nơi ở mới phía bên kia núi Mỏ Quạ, thuộc một bản nhà sàn của người Cao Lan.
Xóm núi đìu hiu Mỏ Quạ, đã trở thành một kỉ niệm rất khó quên.
Dzu- htt
Thứ Ba, 31 tháng 1, 2012
E207- Kết nạp Đảng cho người đã mất
E207- Kết nạp Đảng cho người đã mất
Tháng 4 năm 1975, tiểu đoàn tôi được lệnh đánh cầu Bà Tồn trên quốc lộ 4, đoạn thuộc huyện Cái Bè- Tiền Giang bây giờ. Lâu quá nên tôi không nhớ rõ là trận đánh diễn ra vào ngày nào. Lúc đó tôi là trung đội trưởng C3- D1- E5(tức E207 cũ)- F8- QK8. Trung đội tôi được lệnh bám sát mặt lộ, chặn đánh bộ binh sư 7 từ Đồng Tâm xuống tăng viện, đảm bảo cho đặc công đặt mìn phá sập cầu. Với cương vị của mình, tôi không biết được toàn cục trận đánh, chỉ biết hướng tiến công của chúng tôi phải vượt qua rất nhiều mương đìa, nhiều vườn cây ăn trái. Đây cũng là trận đánh đầu tiên mà tôi gặp rất nhiều nhà dân, với rất nhiều người dân đang ở trong nhà. Tất nhiên khi chúng tôi xuất hiện, hầu hết những người dân ở đây đều dùng ghe xuồng chạy đi nơi khác, vì sợ bị bom pháo. Bởi vậy, khi chúng tôi bám sát được mặt lộ, lập tức pháo từ Cái Bè, từ Cai Lậy dập xuống như mưa, với đủ loại pháo phát quang, pháo chụp. Chớp lửa rừng rực. Mảnh pháo veo véo rú rít. Đất cát bay vù vù.
Thế rồi từ hướng Cái Bè, xuất hiện hai chiếc xe nồi đồng, vừa chạy vừa khạc đạn 2ly7 xối xả, với tiếng nổ đùng toác toác, đùng toác toác chói chát, nhức cả óc, khiến bộ đội phải dạt lui về phía sau. Trước tình thế ấy, tôi lệnh cho Kiệm ôm DKZ57(thu được trong trận đánh chốt Gãy Kinh Nhứt), tiếp cận mặt đường để bắn diệt xe nồi đồng. Chúng tôi dùng AK bắn yểm trợ cho Kiệm trườn lên sát con lộ. Dưới ánh sáng của chớp lửa pháo chụp, tôi nhìn thấy Kiệm đã tiếp cận ngay mép lộ, nằm xoãi phía sau khẩu DKZ. Khi chiếc xe nồi đồng quay trở lại, Kiệm lập tức nhắm bắn, thế nhưng viên đạn lại bay cao, vọt qua chiếc xe. Súng máy trong đồn lính bảo an, tập trung bắn xối xả về phía Kiệm. Tôi nghĩ rằng Kiệm sẽ phải lùi lại, thế nhưng anh vẫn nằm tại chỗ đón bắn chiếc xe nồi đồng thứ hai. Và khi chiếc nồi đồng thứ hai chạy tới, cách gần trăm mét, Kiệm đã ngồi dậy, nâng súng trong tư thế quỳ bắn. Đây là một hành động rất nguy hiểm đến tính mạng, vì dưới chớp lửa đạn pháo và ánh sáng của pháo dù treo trên cao, Kiệm sẽ thành mục tiêu lộ thiên; nhưng tôi biết, chỉ có cách đó, Kiệm mới có thể bắn diệt được chiếc xe nồi đồng; bởi vì với tư thế nằm bắn dưới thấp, khó hòng bắn trung được mục tiêu đang chạy giữa lộ, do bị mặt đường che khuất. Và quả nhiên khi Kiệm vừa ngồi dậy, vừa mới nâng khẩu DKZ57 lên, trọng liên trên chiếc xe nồi đồng đã bắn xối về phía anh. Tôi thấy Kiệm bị hất tung lên cao, rồi ngã xuống, lăn mấy vòng về phía sau. Chúng tôi tập trung bắn quyết liệt về phía chiếc xe, để hai người lao lên lấy xác Kiệm và lấy khẩu DKZ57. Cùng lúc ấy, chúng tôi được liên lạc tiểu đoàn thông báo rút lui về vị trí tập kết, vì vừa có lệnh từ cấp trên không được đánh sập cầu nữa.
Chúng tôi thay nhau cõng xác Kiệm về bờ kinh Cổ Cò, phía ngoài vòng đang bị pháo địch bắn phá. Bấy giờ chúng tôi lấy một chiếc chiếu trong nhà dân, trải xuống cái sân đất, đặt Kiệm nằm lên trên. Kiệm bị đạn 12ly7 bắn xuyên qua ngực phải, trổ ra phía sau lưng vết rách toác to như miệng chén. Tại điểm tập kết này, lúc đó có tôi và Hoành là trung đọi phó của tôi, cùng với anh Tùng C trưởng C3, anh Ruộng trợ lý quân giới, anh Thử Y sĩ, anh Ngôi tham mưu trưởng tiểu đoàn. Khi anh Thái chính trị viên tiểu đoàn đến, tôi ngồi quỳ xuống vuốt mắt cho Kiệm, thì bỗng nhiên thấy Kiệm từ từ mở hé cả hai mắt. Tôi liền quờ tay về phía sau, kéo anh Thái ngồi xuống. Và điều làm tôi vô cùng sững sốt, là tôi nhìn thấy hai môi Kiệm đang mấp máy, nên tôi vừa khóc vừa gọi, Kiệm ơi… Kiệm ơi…. Bấy giờ tôi nhìn thấy anh Thái cũng khóc, nước mắt rơi lả chả từng giọt. Và tôi càng bất ngờ hơn, khi tôi thấy Kiệm nhìn thẳng vào anh Thái, hỏi thều thào, nhưng nghe rất rõ. “Anh Thái ơi, em có được kết nạp vào Đảng không anh?”. Lúc này tiếng pháo đã dứt, đêm vắng lặng và yên tĩnh đến lạ lùng, nên tôi tin chắc rằng, rất nhiều người cũng nghe được câu hỏi của Kiệm, vì tôi thấy ai cũng khóc nấc lên. Còn anh Thái thì cúi sát xuống mặt Kiệm và nói, “đồng chí là đảng viên của Đảng!”.
Sau 30 tháng 4 năm 1975, khi tiểu đoàn tôi lên chốt giữ biên giới ở búng Bình Thiên, huyện Châu Phú, tỉnh An Giang, lúc được điều về làm trợ lý chính trị tiểu đoàn, tôi nhắc lại câu hỏi, “Anh Thái ơi, em có được kết nạp vào Đảng không anh?”, và anh Thái, với cương vị là bí thư đảng bộ tiểu đoàn, đã làm Lễ kết nạp Đảng cho Kiệm. Cũng có cờ Đảng, cờ tổ quốc, ảnh Bác Hồ, có các đảng viên K bộ tham dự. Chỉ có Kiệm, người được kết nạp là không có mặt. Khi anh Thái đọc quyết định kết nạp Kiệm vào Đảng, rồi thay mặt Kiệm đọc lời tuyên thệ dưới cờ Đảng, tất cả chúng tôi đều khóc nấc lên nghẹn ngào.
Hồ Tĩnh Tâm
Tháng 4 năm 1975, tiểu đoàn tôi được lệnh đánh cầu Bà Tồn trên quốc lộ 4, đoạn thuộc huyện Cái Bè- Tiền Giang bây giờ. Lâu quá nên tôi không nhớ rõ là trận đánh diễn ra vào ngày nào. Lúc đó tôi là trung đội trưởng C3- D1- E5(tức E207 cũ)- F8- QK8. Trung đội tôi được lệnh bám sát mặt lộ, chặn đánh bộ binh sư 7 từ Đồng Tâm xuống tăng viện, đảm bảo cho đặc công đặt mìn phá sập cầu. Với cương vị của mình, tôi không biết được toàn cục trận đánh, chỉ biết hướng tiến công của chúng tôi phải vượt qua rất nhiều mương đìa, nhiều vườn cây ăn trái. Đây cũng là trận đánh đầu tiên mà tôi gặp rất nhiều nhà dân, với rất nhiều người dân đang ở trong nhà. Tất nhiên khi chúng tôi xuất hiện, hầu hết những người dân ở đây đều dùng ghe xuồng chạy đi nơi khác, vì sợ bị bom pháo. Bởi vậy, khi chúng tôi bám sát được mặt lộ, lập tức pháo từ Cái Bè, từ Cai Lậy dập xuống như mưa, với đủ loại pháo phát quang, pháo chụp. Chớp lửa rừng rực. Mảnh pháo veo véo rú rít. Đất cát bay vù vù.
Thế rồi từ hướng Cái Bè, xuất hiện hai chiếc xe nồi đồng, vừa chạy vừa khạc đạn 2ly7 xối xả, với tiếng nổ đùng toác toác, đùng toác toác chói chát, nhức cả óc, khiến bộ đội phải dạt lui về phía sau. Trước tình thế ấy, tôi lệnh cho Kiệm ôm DKZ57(thu được trong trận đánh chốt Gãy Kinh Nhứt), tiếp cận mặt đường để bắn diệt xe nồi đồng. Chúng tôi dùng AK bắn yểm trợ cho Kiệm trườn lên sát con lộ. Dưới ánh sáng của chớp lửa pháo chụp, tôi nhìn thấy Kiệm đã tiếp cận ngay mép lộ, nằm xoãi phía sau khẩu DKZ. Khi chiếc xe nồi đồng quay trở lại, Kiệm lập tức nhắm bắn, thế nhưng viên đạn lại bay cao, vọt qua chiếc xe. Súng máy trong đồn lính bảo an, tập trung bắn xối xả về phía Kiệm. Tôi nghĩ rằng Kiệm sẽ phải lùi lại, thế nhưng anh vẫn nằm tại chỗ đón bắn chiếc xe nồi đồng thứ hai. Và khi chiếc nồi đồng thứ hai chạy tới, cách gần trăm mét, Kiệm đã ngồi dậy, nâng súng trong tư thế quỳ bắn. Đây là một hành động rất nguy hiểm đến tính mạng, vì dưới chớp lửa đạn pháo và ánh sáng của pháo dù treo trên cao, Kiệm sẽ thành mục tiêu lộ thiên; nhưng tôi biết, chỉ có cách đó, Kiệm mới có thể bắn diệt được chiếc xe nồi đồng; bởi vì với tư thế nằm bắn dưới thấp, khó hòng bắn trung được mục tiêu đang chạy giữa lộ, do bị mặt đường che khuất. Và quả nhiên khi Kiệm vừa ngồi dậy, vừa mới nâng khẩu DKZ57 lên, trọng liên trên chiếc xe nồi đồng đã bắn xối về phía anh. Tôi thấy Kiệm bị hất tung lên cao, rồi ngã xuống, lăn mấy vòng về phía sau. Chúng tôi tập trung bắn quyết liệt về phía chiếc xe, để hai người lao lên lấy xác Kiệm và lấy khẩu DKZ57. Cùng lúc ấy, chúng tôi được liên lạc tiểu đoàn thông báo rút lui về vị trí tập kết, vì vừa có lệnh từ cấp trên không được đánh sập cầu nữa.
Chúng tôi thay nhau cõng xác Kiệm về bờ kinh Cổ Cò, phía ngoài vòng đang bị pháo địch bắn phá. Bấy giờ chúng tôi lấy một chiếc chiếu trong nhà dân, trải xuống cái sân đất, đặt Kiệm nằm lên trên. Kiệm bị đạn 12ly7 bắn xuyên qua ngực phải, trổ ra phía sau lưng vết rách toác to như miệng chén. Tại điểm tập kết này, lúc đó có tôi và Hoành là trung đọi phó của tôi, cùng với anh Tùng C trưởng C3, anh Ruộng trợ lý quân giới, anh Thử Y sĩ, anh Ngôi tham mưu trưởng tiểu đoàn. Khi anh Thái chính trị viên tiểu đoàn đến, tôi ngồi quỳ xuống vuốt mắt cho Kiệm, thì bỗng nhiên thấy Kiệm từ từ mở hé cả hai mắt. Tôi liền quờ tay về phía sau, kéo anh Thái ngồi xuống. Và điều làm tôi vô cùng sững sốt, là tôi nhìn thấy hai môi Kiệm đang mấp máy, nên tôi vừa khóc vừa gọi, Kiệm ơi… Kiệm ơi…. Bấy giờ tôi nhìn thấy anh Thái cũng khóc, nước mắt rơi lả chả từng giọt. Và tôi càng bất ngờ hơn, khi tôi thấy Kiệm nhìn thẳng vào anh Thái, hỏi thều thào, nhưng nghe rất rõ. “Anh Thái ơi, em có được kết nạp vào Đảng không anh?”. Lúc này tiếng pháo đã dứt, đêm vắng lặng và yên tĩnh đến lạ lùng, nên tôi tin chắc rằng, rất nhiều người cũng nghe được câu hỏi của Kiệm, vì tôi thấy ai cũng khóc nấc lên. Còn anh Thái thì cúi sát xuống mặt Kiệm và nói, “đồng chí là đảng viên của Đảng!”.
Sau 30 tháng 4 năm 1975, khi tiểu đoàn tôi lên chốt giữ biên giới ở búng Bình Thiên, huyện Châu Phú, tỉnh An Giang, lúc được điều về làm trợ lý chính trị tiểu đoàn, tôi nhắc lại câu hỏi, “Anh Thái ơi, em có được kết nạp vào Đảng không anh?”, và anh Thái, với cương vị là bí thư đảng bộ tiểu đoàn, đã làm Lễ kết nạp Đảng cho Kiệm. Cũng có cờ Đảng, cờ tổ quốc, ảnh Bác Hồ, có các đảng viên K bộ tham dự. Chỉ có Kiệm, người được kết nạp là không có mặt. Khi anh Thái đọc quyết định kết nạp Kiệm vào Đảng, rồi thay mặt Kiệm đọc lời tuyên thệ dưới cờ Đảng, tất cả chúng tôi đều khóc nấc lên nghẹn ngào.
Hồ Tĩnh Tâm
Thứ Bảy, 7 tháng 1, 2012
hoa gao- hoa Moc Mien


HOA MỘC MIÊN
Hồ Tĩnh Tâm
Lâu rồi. Đã lâu lắm rồi phải không Mộc Miên. Buổi chiều ấy. Buổi chiều mùa đông. Có mưa phùn, có gió bấc, có âm âm một nỗi niềm. Anh nói là nỗi niềm Mộc miên. Còn em nói, nỗi niềm heo may. Lối về làng, em còn nhớ không, hung hung hai vệt cỏ may chạy dài hun hút. Chúng mình ngồi với nhau bên bờ sông Công. Chúng mình thở ra khói. Gió bấc thở điệu buồn thườn thượt. Hoa Mộc Miên đỏ đến chạnh lòng. Em ném hòn cuội xuống sông Công. Anh cũng ném hòn cuội xuống sông Công. Hai vòng sóng lan tỏa. Đan vào nhau. Giao thoa ấm nóng. Em lượm một đóa Mộc Miên đưa lên miệng. Anh thấy em nhấm nhỏ nhẻ cánh Mộc Miên đỏ rực. Anh cũng lượm một đóa Mộc Miên. Cũng bắt chước em nhấm nháp sắc đỏ xốn xang như lửa. Mộc Miên cháy rừng rực mà anh với em chẳng nói được gì. Nước sông Công vô tình ngủ lịm trong heo may hiu hắt.
Lâu rồi. Đã lâu lắm rồi phải không Mộc Miên.
HTT
Chào HT.
Mấy hôm nay anh lu bu toàn những chuyện gì đâu, chẳng còn mấy thời gian cho chuyện viết lách, nên cũng ít đọc trên mạng, chỉ thỉnh thoảng ngồi xem vài bộ phim tư liệu để bổ sung kiến thức. Trời lạnh nên nhớ mùa đông phương Bắc, thành ra bần thần viết cái đoản văn về hoa gạo cho đỡ nhớ.
Hoa gạo còn có tên gọi là Hoa Mộc Miên, gắn với sự tích mối tình Hoa Mộc Miên ở miền núi Tây Bắc, Việt Bắc, nơi anh từng sống một thời tuổi trẻ. Cứ vào tháng ba là hoa gạo bắt đầu nở. Mới đầu chỉ là những nụ hoa đỏ lấm tấm như những đốm lửa trong gió rét mùa đông. Rồi những nụ hoa lớn dần lên, xòe ra năm cánh to dày. Nhìn từ xa thấy đỏ chói chang như lửa, khiến mùa đông chợt ấm lên lạ thường. Khi hoa gạo tàn phai gieo mình xuống lòng đất thì những quả gạo ra đời, bên trong chứa đầy sợi bông xốp, người ta vẫn thường lấy đem về nhồi vào ruột gối- nhiều người còn dùng nhồi và chăn bông.
Cây gạo ở Miền Bắc là hình ảnh của những miền quê nghèo thương khó, đẹp một cách bình dị trong yên ả thanh bình. Cứ mỗi năm khi trời se lạnh là anh lại nao nao nhớ về loài hoa đỏ, có cái tên rất đỗi thân thương là hoa gạo- Hoa Mộc Miên của tình yêu và nỗi nhớ.
Chúc HT vui khỏe cùng năm mới nhen.
Gửi Hồ Tĩnh Tâm
tranhoangvy
Chúc HTT và gia đình năm mới an khang, tài lộc dồi dào, sáng tác hay. Tình thân
Trần Hoài Thắm( CTDY)
Em cũng nghe nhiều về hoa gạo ở miền bắc. Nhưng cái tên Hoa Mộc Miên thì bây giờ mới biết đó. Cám ơn anh cho em biết thêm một điều quý giá về hoa gạo.( Thú thật em chưa được ngắm hoa gạo nở và biết rất ít về hoa gạo)
gởi anh tranhoangvy
hotinhtam
Chào anh Trần Hoàng Vy.
Dạo này bận bịu toàn chuyện gì đâu nên tôi cũng chẳng viết được gì mấy anh ạ. Hơn nữa do ảnh hưởng sức khỏe nên nguồn cảm hứng cũng không được như trước, đầu óc cứ ù lì thế nào ấy.
Đầu năm chúc anh vui khỏe và viết được nhiều nhen.
gởi cuatungdauyeu
Chào HT.
Quê mình hình như không có cây gạo em ạ. Cây gạo là loài cây rất đặc trưng đối với nông thôn Miề̀n Bắc. Vào mùa đông cây gạo rụng sạch lá, chỉ còn trơ lại nhánh cành khẳng khiu với thân cây sầ̀n sùi. Đến tháng ba cây gạo bắt đầu trổ bông, rồi nở rộ một màu đỏ chói chang như lửa. Lúc này chim chóc tụ về rất đông, hót ríu ran suốt cả ngày. Sau đó hoa gạo rụng dần, và quả gạo bắt đầu lớn dần lên. Đến tháng 5 quả gạo chín nở bung ra, rắc vào không gian từng chùm sợi bông trắng xóa, theo gió bay đi khắp nơi, nhìn đẹp lắm.
Chẳng biết có thể lấy giống đem về quê mình trồ̀ng được không. Nhưng anh nghĩ chắc là không được, vì nếu được thì người ta đã trồng rồi.
Thứ Tư, 28 tháng 12, 2011
nỗi niềm 12 trong mùa giáng sinh
NỖI NIỀM 12
Anh đồng bằng gởi Em đồng bằng
Hun hút em ơi, từng sợi gió trượt dài theo dốc tuổi
Mười hai mưa phùn trên tóc núi hoa râm
Nghiêng hết heo may rối bời lũng suối
Mỏi mòn anh cháy đợi một trăng mầm.
Khát vọng – Đam mê một trời nhung nhớ
Mùa thời gian réo nợ bạc bàn tay;
Xa cách mấy cũng gần trong hơi thở
Máu về tim chín đỏ nỗi đau này.
Không phải Chúa, anh cũng là cứu thế
Trần gian thay. Lệch cả ải giang hồ.
Thập giá là đây- giang đôi tay trời bể
Cứu rỗi đời nhau lớp lớp chữ dồn xô.
Mười hai. Mười hai. Heo may trong ngực
Đồng bằng ơi ta bùn đất Giáng sinh;
Hiển hiện em đóa vô thường vô thức
Dẫu chết đi rồi… ta vẫn cứ phục sinh!
HTT
23g13, ngày 16 tháng Giáng Sinh năm Đợi
Anh đồng bằng gởi Em đồng bằng
Hun hút em ơi, từng sợi gió trượt dài theo dốc tuổi
Mười hai mưa phùn trên tóc núi hoa râm
Nghiêng hết heo may rối bời lũng suối
Mỏi mòn anh cháy đợi một trăng mầm.
Khát vọng – Đam mê một trời nhung nhớ
Mùa thời gian réo nợ bạc bàn tay;
Xa cách mấy cũng gần trong hơi thở
Máu về tim chín đỏ nỗi đau này.
Không phải Chúa, anh cũng là cứu thế
Trần gian thay. Lệch cả ải giang hồ.
Thập giá là đây- giang đôi tay trời bể
Cứu rỗi đời nhau lớp lớp chữ dồn xô.
Mười hai. Mười hai. Heo may trong ngực
Đồng bằng ơi ta bùn đất Giáng sinh;
Hiển hiện em đóa vô thường vô thức
Dẫu chết đi rồi… ta vẫn cứ phục sinh!
HTT
23g13, ngày 16 tháng Giáng Sinh năm Đợi
Thứ Sáu, 23 tháng 12, 2011
ĐÊM NÔ EN TRÊN BỜ SÔNG
ĐÊM NÔ EN TRÊN BỜ SÔNG
Truyện ngắn Hồ Tĩnh Tâm
Năm ấy mùa đông rất lạnh, nhưng vì công việc mà tôi buộc lòng phải một mình đạp xe ra đi trong mưa phùn gió bấc. Chặng đường khá xa nên tôi tính toán ra đi từ tám giờ sáng, với hy vọng tới nơi vào lúc sập chiều. Chắc là cậu tôi sẽ mừng lắm, vì đã mấy năm rồi hai cậu cháu chưa gặp nhau, và cũng chẳng hề có thư từ gì qua lại. Chiến tranh ì đùng khiến người ta quên đi rất nhiều việc thuộc về tình cảm. Bởi vậy khi biết tin cậu tôi vì bị thương mà được trở về cơ quan cũ, mẹ lập tức bắt tôi đem cặp gà đi biếu cậu, bởi cậu là đứa em mà mẹ tôi yêu nhất. Còn tôi, tôi cũng quý cậu lắm, bởi hồi nhỏ, thỉnh thoảng tôi vẫn được cậu mua cho mấy ki lô gam sách cũ. Cậu nói, sách để đọc nên cũ hay mới gì cũng thế, mua sách cũ vừa rẻ vừa được chọn theo ý mình thích; mà những cuốn sách cậu lựa mua cho tôi, cuốn nào cũng hay, cứ như là cậu biết được ý tôi vậy. Cho đến bấy giờ, tôi cũng không thể hình dung ra cậu, ngoại trừ tôi nhớ như in là cậu biết chơi phong cầm, và hát nghe cũng tàm tạm.
Buổi sáng trôi qua rất bình yên, nhưng bắt đầu từ buổi trưa thì máy bay xuất hiện ném bom liên tục, buộc tôi cứ phải dừng xe tìm chỗ ẩn nấp, thảnh ra khi trời sập tối, tôi chỉ mới tới bờ sông Luộc, tức là còn cách nơi tôi đến mấy chục cây số. Trời tối như bưng lấy mắt, lại thêm giá rét căm căm như cắt da cắt thịt, buộc tôi phải lần mò tìm một chỗ trú qua đêm. May cho tôi là tôi không phải tìm kiếm lâu, bởi vì ngay bên đường tự nhiên lại thòi ra một ngôi nhà nhỏ, nằm sát bên bờ sông. Mới đầu tôi tưởng là nhà bỏ hoang, nhưng khi đến gần tôi nhìn thấy bên trong có một ông già đang ngồi nấu cái gì đó sôi lục ục trên bếp lửa làm bằng ba cục gạch. Nghe tiếng líp xe kêu lách tách, ông già ngoái lại nhìn và nhận ra tôi, nói một câu gọn lỏn. “ngủ nhờ phải không?”. Vừa đói vừa lạnh, nghe ông già hỏi vậy thì còn gì bằng, nên tôi trả lời ngay.
- Bác cho cháu ngủ nhờ qua đêm, sáng mai cháu đi sớm.
Cúi xuống cời than, không nhìn tôi, ông già nói.
- Ngủ thì cứ ngủ. Tôi có trải sẵn cái ổ rơm đấy. Tôi một mình ra đây là để cho người lỡ đường ngủ nhờ. Không thấy tôi để sẵn tấm chăn bông à.
Dắt cái xe đạp vào dựng ở góc nhà, khóa lại cẩn thận rồi tôi mới nói.
- Cháu có hai cái bánh chưng, bác ăn với cháu nhé!
- Bánh chưng cơ à? Nhưng thôi, để dành mà ăn đường. Tôi có nồi cháo cá đây. Cháo cá lăng, tôi dành mấy ngày để đợi hôm nay đấy. Từ chiều tôi đã nghĩ đêm nay thế nào cũng có khách. Đêm nay là đêm Nô En. Anh chắc không có đạo đâu nhỉ?
Vốn là người vô đạo nên từ trước tới nay tôi chẳng bao giờ quan tâm để ý đến Nô En, trái lại, tôi còn có phần không thích người theo đạo Thiên Chúa. Công giáo với tôi chỉ là những cái nhà thờ bằng đá lạnh lùng, với tượng Chúa chịu nạn trên thánh giá, và tượng Đức Mẹ rất đẹp. Bây giờ, bên bờ sông hoang vắng, nghe ông già nhắc tới Nô En, tự nhiên tôi thấy có gì đó có vẻ thiêng liêng lắm, nên ông già mới nói là đã để dành con cá lăng tới mấy ngày.
Có lẽ biết tôi đang đói, nên ông già mở nắp nồi cháo tra hành vào. Mùi cháo cá bốc lên thơm lựng khiến tôi xốn cả bụng.
- Cứ coi như đã đến giờ Thiên Chúa giáng sinh. Tôi có cút rượu ngang để dành cho đêm Thánh đây. Anh nhắp chút cho ấm bụng nhé.
Ông già múc cái đầu cá ra dĩa, múc cho tôi chén cháo, rồi lôi từ đâu đó ra cút rượu. Sau khi làm dấu Thánh một cách trịnh trọng, ông ra hiệu mời tôi ăn. Còn trẻ lại đang đói, lại từng sống lăn lóc nay đây mai đó, nên sau khi cám ơn ông già một tiếng, tôi cắm đầu húp chén cháo một cách ngon lành. Vừa ăn tôi vừa nghĩ, đúng là ông già này có ý đón khách, chứ mình ông thì việc gì nấu cả nồi cháo to đùng thế này; có dễ bốn năm người ăn thật lực mới hết. Nghĩ vậy, khi nhấp với ông già ngụm rượu, tôi hỏi.
- Bác ạ, cháu hỏi khí không phải, nhưng bác nấu cả nồi cháo to thế này là để đón khách ăn mừng Chúa giáng sinh à?
- Chứ sao nữa. Từ chiều tôi đã nghĩ là đêm nay thế nào cũng có khách. Mấy con chích chòe nó kêu suốt ấy mà.
- Vậy bác cho cháu góp cái bánh chưng nhé. Đằng nào sáng mai cháu cũng đã đến nhà ông cậu ở Ninh Vân, cũng giết gà ăn mừng.
- Tùy anh thôi. Đêm Thánh thì cũng nên ăn chút gì đó cho ngon. Con cá lăng của tôi nặng hơn hai cân đấy. Anh cứ ăn tự nhiên. Vì Chúa mà phải ăn để sống. Với lại đêm nay Chúa của tôi biết có về không nữa. Bom đánh sập nhà thờ làng tôi rồi. Tượng Chúa, tượng Đức Mẹ tan tành hết. Phép Chúa lớn thế cũng không cứu được nhà thờ.
Đêm mùa đông càng lúc càng đặc sánh lại, nghe rõ tiếng gió rít hù hụ trên mặt sông, đẩy lạch xạch vào bốn bức vách thưng bằng nứa đan lóng đôi. Nhờ ngọn lửa phả ra, nhờ chút men rượu chạy rần rật trong cơ thể, nên tôi cũng thấy lâng lâng ấm nóng, đâm ra muốn hóng chuyện.
- Bác ạ, bác nói bác ra đây ở là để đón người lỡ đường cho ngủ nhờ à?
- Anh nhìn tôi dọn sẵn cái ổ to thế kia, anh biết rồi đấy. Với nữa tôi một thân một mình, ở đâu mà chẳng được. Ra đây gần sông hợp với tuổi rồng của tôi. Nói thật với anh. Tuần nào ít nhất cũng có một người lỡ đường vào đây ngủ nhờ đấy. Tháng trước còn có một cô bộ đội đến xin ngủ nhờ vào lúc nửa đêm. Mẹ cô ấy bị bom chết, cô ấy đạp xe gần hai trăm cây số, đến đây chắc là quá mệt nên phải dừng lại xin ngủ nhờ. Mà cô ấy, hỏi ra lại là người công giáo chúng tôi. Lính ra đa, học hết lớp mười đàng hoàng.
Chúng tôi đang vừa ăn vừa trò chuyện, bỗng nghe có tiếng người gọi từ đâu đó ngoài bờ đê.
- Bác cả ơi, còn thức chứ?
Một người đàn ông quấn tùm hụp tấm chăn chiên Nam Định hiện ra, toét miệng cười.
- Em biết ngay là bác cả thế nào cũng còn thức. Nô En buồn quá, chả có nhà thờ để đi Lễ. Em có túm thịt chó với hai cút rượu, em mò ra thức với bác cả mừng Chúa giáng sinh. May quá, nhà bác lại có khách. Nô En cứ là phải thế này chứ. Vì Chúa, bác cả cho em xin cốc rượu nào.
Trà tam rượu tứ. Chúng tôi có ba người, người thứ tư chắc chắn là Chúa ba ngôi chứ còn ai nữa.
Đêm Thánh rộng vô cùng.
HTT
Thứ Năm, 22 tháng 12, 2011
Em ở đâu Bua Khưa
Em ở đâu Bua Khưa
Tiếng khèn anh thổi sắp tàn đêm em có nghe, Bua Khưa
Đêm dày lắm rồi, rừng lạnh tái tê từng chiếc lá
Gió chui hết vào hang vào hốc, chỉ buồn anh còn thức, Bua Khưa
Buồn anh thức cùng tim anh khản tiếng gọi Bua Khưa
Em ngủ ở nhà nào mà tắt tiếng đàn môi
Con gió đi khắp mười rừng không biết em ở đâu
Con trăng đi khắp mười núi không biết em ở đâu
Mường vắng em cỏ hoang mọc đầy cả ngõ
Con dao của anh lười không vào rừng
Mũi tên của anh buồn không bung khỏi nỏ
Con cáo con chồn vào bắt gà dưới sàn chó cũng không thèm sủa
Than bếp tắt cả ngày lửa cũng không thèm nhóm
Dòng suối cũng không chảy nữa
Chén rượu cũng không còn có bàn tay rót nữa
Em ở đâu Bua Khưa
Em ở đâu Bua Khưa
Em ở đâu Bua Khưa
Dzu
Tiếng khèn anh thổi sắp tàn đêm em có nghe, Bua Khưa
Đêm dày lắm rồi, rừng lạnh tái tê từng chiếc lá
Gió chui hết vào hang vào hốc, chỉ buồn anh còn thức, Bua Khưa
Buồn anh thức cùng tim anh khản tiếng gọi Bua Khưa
Em ngủ ở nhà nào mà tắt tiếng đàn môi
Con gió đi khắp mười rừng không biết em ở đâu
Con trăng đi khắp mười núi không biết em ở đâu
Mường vắng em cỏ hoang mọc đầy cả ngõ
Con dao của anh lười không vào rừng
Mũi tên của anh buồn không bung khỏi nỏ
Con cáo con chồn vào bắt gà dưới sàn chó cũng không thèm sủa
Than bếp tắt cả ngày lửa cũng không thèm nhóm
Dòng suối cũng không chảy nữa
Chén rượu cũng không còn có bàn tay rót nữa
Em ở đâu Bua Khưa
Em ở đâu Bua Khưa
Em ở đâu Bua Khưa
Dzu
Đăng ký:
Bài đăng (Atom)
