Thứ Bảy, 27 tháng 8, 2011

chuyện nón lá, nón bài thơ Việt Nam





nụ cười con gái nghiêng sau nón
càng bí ẩn hơn càng dễ thương
Đimitrova

CHUYỆN NÓN LÁ NÓN BÀI THƠ THƯỞ NÀO

Hồ Tĩnh Tâm






Cách đây mấy hôm, vợ tôi cho hay, có bà trong Ngọn bị té xe nặng lắm, hổng biết có qua khỏi hay không. Hỏi thì bả cho biết, không phải bà này bị người ta đâm, mà là bà ta ta đâm xe vào người ta, khiến người ta cũng phải đi cấp cứu. Nghĩ tới chuyện hai cái xe, mỗi chiếc hơn ba chục triệu bị dập nát, người thì phải nằm hồi sức cấp cứu, sống chết treo đầu sợi tóc, tôi lạnh cả người. Nghĩ bụng như vậy, tôi nói với bà xã, em chở con đi học mỗi ngày, phải cẩn thận đấy. Bà xã nghe tôi nói thì trả lời, em té xe hoài chớ gì, tại em không nói cho anh biết. Ra là vậy. Hèn chi lâu lâu, tôi lại thấy cái xe của bả, lúc thì bể bửng, lúc thì bể vè, lúc thì phải thay kiếng chiếu hậu.



Sự bất cẩn của bà xã thì tôi còn lạ gì.

Thời Nhà nước chỉ mới tuyên truyền đội mũ bảo hiểm, tôi đã sắm cho cả nhà mỗi người mỗi cái mũ bảo hiểm, lại còn dư ra hai cái để xơ cua, vậy mà cấm bao giờ bả chịu đội, thứ mà bả coi là “nồi cơm điện”. Cứ leo lên xe là bả chụp nón lá lên đầu. Đội nón lá thì chắc chắn bả phải chạy xe một tay, bởi nón lá rộng vành, khác gì cái thúng đựng gió, không dùng tay giữ chặt, thì nó bay vèo xuống đường tức khắc. Lo cho con gái ngồi phía sau lưng mẹ, tôi cứ phải nhắc hoài, rồi chuyển sang cằn nhằn, rằng nếu bả không chịu đội nón bảo hiểm, thì làm ơn đội giùm nón vải rộng vành, bởi dầu gì, nón vải cũng ôm chặt lấy đầu hơn nón lá. Nhưng tôi nói gì thì nói, bả cứ chứng nào tật nấy, rằng bả là người Việt, bả đội nón lá quen rồi.



1. Nón lá của người Việt



altTrên thế giới, chắc chắn có nhiều tộc người, của nhiều quốc gia đội nón lá, nhưng nón lá kiểu người Việt, hình như chỉ có người Việt mới đội. Nó có hình chóp, chiều dựng cao khoảng gần ba chục xăng ti mét, vành nón có đường kính khoảng hơn hai gang tay người lớn, tức khoảng hơn bốn chúc xăng ti mét một chút, với mười sáu vòng cật tre vót tròn, to nhỏ khác nhau, đỡ cứng một cách chắc chắn ở bên trong.



Đã gọi là nón lá, thì vật liệu làm nên nón, chỉ có lá và tre, và ngay cả sợi dây chằm nón, cũng là dây được tước ra từ một thứ lá trên rừng, thường là dây đoác. Nếu việc phơi lá nón, rồi dùng bàn là than ủi lá cho thật phẳng, đòi hỏi công phu bao nhiêu, thì việc ngâm lá đoác cho mục phần lá, tước lấy phần sợi thành dây nhỏ, cũng công phu bấy nhiêu. Ngay cả việc vót cật tre thật tròn, thật đều, cũng đòi hỏi phải quen tay mới làm được. Nhiều người cả đời ngồi còng lưng vót nan tre, lúc về già lưng cụp xuống, phải chống gậy mà đi; còn ngón trỏ với ngón cái, hầu như dấu vân tay bị mòn lì đến mất sạch. Có được cái nón lá mỏng manh, giản đơn, bình dị, coi vậy, nhưng cũng là cả một công phu của biết bao nhiêu người; từ người lên rừng chặt lá non đem về, đến người đốn tre vót vành nón, người ngâm lá đoác tước thành dây chằm, người ủ lá, người phơi lá, người dùng bàn ủi than là cho lá phẳng phiu, người tạo khung gỗ làm nón, người tạo hoa văn, tạo bài thơ cho nón, người chằm nón… ấy là chưa kể đến người dệt lụa làm quai nón, người đưa nón đến với mọi nhà, mọi người.



Nón này che nắng che mưa

Nón này để đội cho vừa lòng nhau



Nón lá Việt Nam, từ bao đời nay, đã lặng lẽ hoá thân vào đời sống dân Việt, thành thơ, thành nhạc, thành tranh, thành một nét văn hoá thuần Việt, thấm đậm biết mấy tình đời, tình người; và có thể, đã trở thành một biểu tượng thanh thao, nhẹ nhỏm, cùng với áo dài, áo bà ba, đôi quang gánh, chiếc thuyền nan, chiếc ghe tam bản, làm nên nhan sắc duyên dáng Việt Nam, dịu dàng dịu dàng, và đằm thắm đằm thắm biết bao.



2. Nón lá trong đời sống cộng đồng dân tộc Việt



altChiếc nón lá Việt Nam, không biết khởi nguồn từ đâu, nhưng chắc chắn, nó đã có mặt với cộng đồng người Việt từ hàng ngàn năm nay. Và đến tận bây giờ, khi thời đại @ bùng nổ, với sự ra đời của hàng muôn ngàn chủng loại nón vải, nón nhựa, nón sắt, nón sợi tổng hợp, nón lá Việt Nam vẫn tìm được chỗ đứng khiêm nhường của nó, trong tâm hồn người Việt, ở khắp mọi nẻo đồng quê tổ quốc.



Giữa muôn vàn sự phô trương của các chủng loại nón, với muôn vàn chất liệu, kiểu dáng, đôi khi tôi vẫn tự hỏi, liệu các nhà thiết kế, được ăn học, đào tạo hẳn hòi, đã ai tạo ra được sự cân đối, đạt đến tiêu chuẩn tỉ lệ thiết kế vàng, như chiếc nón lá Việt Nam. Chiều rộng, chiều cao, sao mà hài hoà đến thế, hình dáng, màu sắc, sao mà đẹp chạnh lòng đến thế. Người phương Đông, người phương Tây, người da màu, người da trắng, ai đội nón lá cũng đẹp. Thật đúng như nhà thơ Đimitrova, lần đầu đến Việt Nam, ngỡ ngàng trước vẻ đẹp dung dị của nón lá Việt Nam đã viết.



Nụ cười con gái nghiêng sau nón

Càng bí ẩn hơn càng dễ thương



altÔi là Đimitrova, nếu bà biết thêm rằng, cái nón lá Việt Nam, từ muôn đời nay, nó đã là một góc tâm hồn Việt, gắn bó với người dân Việt, như một vật dụng thiết thân hàng ngày không thể thiếu, nhất là ở những miệt vườn, miệt đồng chiêm, đồng mùa. Với phụ nữ Việt Nam, nón lá là vật che nắng che mưa, dùng trong lao động hàng ngày, dùng trong đi Hội, đi Lễ, đi đám cưới, đám ma, đám chạp, đám giỗ… và dùng để đến với người yêu, cùng nhau thuỷ chung đi suốt cùng trời cuối đất. Nhẹ nhỏm, thanh tao và duyên dáng, nón lá làm nên vẻ đẹp dịu dàng của phụ nữ Việt Nam, làm nên tính cách và tâm hồn phụ nữ Việt Nam. Cũng nhẹ nhỏm, thanh tao và duyên dáng như thế, nón lá Việt Nam bước vào sân khấu nghệ thuật Việt Nam, qua năm tháng, làm nên điệu múa nón say đắm lòng người; chinh phục, không chỉ nền văn hoá phương Đông, mà còn chinh phục cả nền văn hoá phương Tây, vốn rất xa lạ với chiếc nón lá Việt Nam.



Hình ảnh nón lá Việt Nam, từ bao đời nay, gắn với hình ảnh tần tảo của người phụ nữ Việt Nam, với đôi quang gánh trên vai, với đôi guốc mộc dưới chân, với bộ váy áo tứ thân, với tà áo dài, với tấm áo bà ba, với chiếc khăn rằn quấn cổ. Một trưa hè trên nẻo đường quê, bà lão già móm mém, hạ đôi quang gánh dưới bụi tre làng, ngồi ghé trên chiếc đòn gánh, phe phẩy cái nón lá quạt gió trưa nồng. Một chiều tím trên sông, thiếu nữ nghiêng vành nón đợi chuyến đò ngang. Nao lòng làm sao, khi giữa đồng làng, những người phụ nữ nón lá trên đầu, nối nhau gánh lúa về làng. Càng nao lòng tới muốn khóc, khi ta đi xa trở về, đến bờ đê đầu làng, gặp những trẻ mục ngồi vắt vẻo lưng trâu, đầu đội nón mê, đang véo von sáo trúc.



altThưở xa xưa ấy, khi những cô gái sang sông, cất bước về nhà chồng, dường như bao giờ, người mẹ cũng trao cho con chiếc nón lá cầm tay. Chiếc nón lá đơn sơ ấy, theo con gái mẹ về nhà người làm dâu. Rồi cô dâu hay lam hay làm đội nón lá ra đồng. Rồi cô dâu hay lam hay làm đội nón lá lên nương. Rồi người mẹ tảo tần nón lá trên đầu, quang gánh trên vai, xuôi ngược dặm đường buôn thúng bán bưng. Rồi người mẹ dùng nón lá che nắng cho con, lọc cọc trên chiếc xe ngựa lên chợ huyện. Rồi chiếc nón lá ấy vục xuống dòng sông, múc nước lên rửa khuôn mặt ướt đẫm mồ hôi, múc nước lên để uống. Chiếc nón lá, chiếc nón lá quê nhà gần gụi ấy, đôi khi còn chao nghiêng, che giấu nụ cười cô thôn nữ, lúc xốn xang buông thả câu hẹn thề với chàng trai cùng xóm. Chiếc nón thân thương ấy, bởi vậy, trong đời sống cộng động người Việt, tự bao đời, đã trở thành quà tặng trao nhau.



Ra đường nghiêng nón cười cười

Như hoa thơm nở, như người trong tranh



Từ chiếc nón lá bình dân của người lao động, đến chiếc nón bài thơ, nón lá Việt Nam đã làm một cuộc hành trình lý ngựa ô, lý chim sáo, suốt dọc dài từ Bắc vào Nam, tấu lên biết bao giai điệu tím biếc tình đời.



3. Biến tấu đời thường của nón lá



altNón lá góp phần làm nên văn hoá nón lá Việt Nam, văn hoá Việt Nam. Nón lá là cốt cách, là tâm hồn Việt Nam, làm nên vẻ đẹp thuỳ mị, dịu dàng, duyên dáng Việt Nam. Khi còn mới, nón lá mỏng nhẹ như cánh hạc, tươi trắng như đoá sen, tôn vinh gương mặt thôn nữ thành thơ. Khi cũ rách, nón lá thành nón mê. Từ chiếc nón bài thơ của cô gái e ấp mái tóc thề, đến chiếc nón của bà hàng xáo mỗi ngày gánh gạo lên chợ huyện bán buôn, đến cái nón của anh thợ cày, cái nón dấu của anh lính thú, cái nón quai thao của liền anh liền chị Quan họ Bắc Ninh. Nón lá lặn vào duyên tình người lao động chân quê chân chất. Nón lá theo chân người lên sân khấu, huyền ảo sắc màu, lung linh giai điệu. Nón lá lên công trường. Nón lá vào chợ búa. Nón lá cùng trẻ em đến trường đi học. Nón lá theo dòng chảy giao lưu văn hoá, vượt vạn dặm trời biển, đến với năm châu bốn biển. Nón làng Chuông Hà Tây. Nón Phủ Tây Hồ xứ Huế. Nón Gò Găng Bình Định. Khắp nước Việt tre trúc, lá buông lá đoác, dường như ở đâu cũng có làng nghề chằm nón. Bởi vậy, văn hoá nón lá là văn hoá vật chất, văn hoá tinh thần, của cả nước Việt dài như rau muống biển. Bởi vậy, biến tấu của văn hoá nón lá Việt Nam, là biến tấu của vô tận vô cùng.



altCông dụng đầu tiên của nón lá là che nắng che mưa, là góp phần làm nên tính dân tộc đằm thắm của người phụ nữ Việt Nam, làm nên thơ ca nhạc hoạ, thấm đẫm tình đất tình người nước Việt. Ấy vậy mà nhiều người, khi nghỉ ngơi đồng áng mệt nhọc, khi nghỉ chân đường dài quang gánh bán buôn, vẫn dùng nón lá như chiếc quạt, quạt mát cho mình, quạt mát cho người, hoặc đôi khi, họ dùng ngay chiếc nón lá đội đầu ấy, lót luôn xuống mông để ngồi. Ở bến xe bến tàu, nhiều người trong lúc chờ đợi mỏi mệt, đã dùng nón che đầu nằm ngủ. Rồi thì… nói ra thì tệ lắm… người ta còn dùng nón lá che mắt thiên hạ, giở trò móc túi, trộm cắp tiền bạc ngay giữa thanh thiên bạch nhật.



Biến tấu của nón lá, biết nói sao bây giờ.



4. Nón lá Việt sẽ về đâu



Trở lại chuyện vợ tôi, suốt một thời chỉ thích đội nón lá, tự nhiên tôi cứ rưng rưng nghĩ mãi, vì không biết, rồi đây nón lá Việt Nam sẽ đi về đâu, khi mà văn minh mũ nón đội đầu, đang bị sự lấn lướt ức hiếp oan uổng của mũ bảo hiểm, bắt buộc phải đội đầu, khi lưu thông xe máy trên đường.



Số lượng người Việt sử dụng xe máy đi đường, đi làm việc, đi học, đã tăng lên với số lượng chóng mặt. Đó chính là bản án khai tử nền văn hoá nón lá Việt Nam. Chẳng ai người ta chịu phiền toái, đem theo chiếc nón lá khi đi xe máy, để rồi được đội nón lá khi phải đi bộ. Thế nhưng cứ thử nhìn phụ nữ đi chợ quê mà xem, sùm sụp cái mũ bảo hiểm đỏ chót, xanh lè, vàng khè, đen thui trên đầu, nom nó cứ thế nào, coi ngàu tới nhức mắt, khó chịu.



Nón lá lâm vào cơn thoi thóp giãy dụa, chỉ còn có thể sống trên sâu khấu múa dân tộc, hay lùi vào làm vật trang trí cho các nhà hàng. Nhưng thử hỏi, rồi thì nó còn tồn tại được bao lâu, khi mà những cánh rừng lá buông, lá đoác ít ỏi còn lại, cũng bị triệt phá đến lịm chết. Thời hoàng kim của nón lá đã chấm hế rồi ư?



Còn tồn tại bao nhiêu lâu nữa, câu ca dao mẹ nắm tao nôi ru con ngủ.



Cưới nàng đôi nón Gò Găng

Xấp lãnh An Thái, một khăn trầu nguồn



HTT

Thứ Sáu, 26 tháng 8, 2011

em, cỏ dại mùa thu- thơ hotinhtam




em, cỏ dại mùa thu- thơ hotinhtam


altCả ngày hôm nay tôi vào trường chấm bài thi học phần cho sinh viên. Công việc chấm bài không nặng nhọc gì, trái lại, thông qua phần tự luận của sinh viên, tôi hiểu hơn về tâm hồn và tình cảm của các em, và thêm phần quý các em nhiều hơn. Có điều, chỉ có tôi với thầy Cao Minh Toàn ngồi chấm, mà ngoài trời cứ xâm xẫm se lạnh doạ mưa thì cũng buồn. May là gần cuối buổi chiều, Q gọi điện hỏi thăm sức khoẻ, nên cũng nguôi ngoai phần nào. Chấm xong, về tới nhà là mưa. Mưa rả rích cho tới tận bây giờ. Lạnh mùa thu, chợt nhớ về bao nhiêu kỉ niệm. Chẳng biết làm gì, thì hồi tưởng mà viết- viết về em và mùa thu cỏ dại.


EM- CỎ DẠI MÙA THU

Hồ Tĩnh Tâm




đêm bần thần lành lạnh mái trăng thu

buồn cô quạnh mưa gieo sầu lướt thướt

lối cỏ dại đầm đìa từng giọt uớt

lệ trên môi lửa trong mắt đâu rồi



tình nồng nàn chưa dễ đã phai phôi

trưa chuếnh choáng say nghiêng trời hoài vọng

tay em xiết dạt dào muôn cánh sóng

chìm trong nhau rạo rực thuỷ triều dâng



xa rồi ư?... thu chín vẫn khuâng khuâng

em như gió thổi nghiêng đồi lau lách

mùa dâng hiến biển trời không khoảng cách

bài thơ gieo đau đáu lá rau răm



tóc em xuân, môi em hạ, ngực em rằm

lời em dịu cột tháng năm chặt lại

anh phiêu lãng lạc vào em đi mãi

mắt thu xanh thăm thẳm nẻo tìm nhau



đêm giật mình thao thiết tím cơn đau

thương mùa gặt tay hái đầy vụng dại

anh nghe rõ tiếng ngực trần con gái

gọi vào thu lìm lịm chín đầy tay



mưa rây buồn thổn thức suốt đêm nay

lạnh tàn thu nhớ về em nhớ lắm

lời đồng vọng vẫn còn say đăm đắm

tóc em xuân, môi em hạ, ngực em rằm



HTT


hotinhtam

Tôi biết Cỏ Vàng rất tình cờ. Thế nhưng chút tình cờ ấy cũng thành duyên nợ sâu đậm, bởi Cỏ Vàng đã đến với tôi, an ủi động viên tôi chuẩn bị cho ca mổ, mà không mổ là không được.
Thật lòng, tôi cảm ơn Cỏ Vàng nhiều lắm!


Chúc Cỏ Vàng học giỏi và thật giỏi!


em, cỏ dại mùa thu- thơ hotinhtam



Lời anh viết vẫn nồng nàn tuổi trẻ.
Đã sống dạy trong ...một lần mổ xẻ
Lưới hái kia đã không đánh gục được anh...
Bởi có tình em ...ẩn náu tận vô cùng...

Hì anh tôi lại tương tư...
Ngủ đi anh...Không em mét Bờm cho biết

Re: em, cỏ dại mùa thu- thơ hotinhtam

em, cỏ dại mùa thu- thơ hotinhtam



tóc em xuân, môi em hạ, ngực em rằm
Tình thu


catbien

tình nồng nàn chưa dễ đã phai phôi
trưa chuếnh choáng say nghiêng trời hoài vọng
...
Khúc tình thu thật dịu ngọt và đắm đuối anh ạ.
gởi vothuong1455


hotinhtam

Chào Tuyết Nga!

Với thơ, đã viết thì phải viết cho nồng nàn chứ em. Thơ là cảm xúc bỏng cháy, nhưng cũng là trí tưởng tượng bay bỗng, nếu không như vậy, làm sao viết được thành thơ. Em biết tính anh rồi đấy. Không viết thì thôi, còn đã viết thì viết như thật, bởi vậy cả đời anh mới khổ.


gởi Bảy Thi


hotinhtam

Chào Bảy Thi!

lời đồng vọng vẫn còn say đăm đắm
tóc em xuân, môi em hạ, ngực em rằm


gởi Cát Biển


hotinhtam

Chào Cát Biển!

tóc em xuân, môi em hạ, ngực em rằm
lời em dịu cột tháng năm chặt lại
anh phiêu lãng lạc vào em đi mãi
mắt thu xanh thăm thẳm nẻo tìm nhau

Mùa Thu xem ra đẹp đấy chứ. Không hẹn trước, nhưng Dzu đã chờ đến mùa Thu mới mổ xẻ, thành ra sự dịu mát tự tìm đến mơn man, xua đi bao nhiêu phiền muộn, đem về bao nhiêu thiết tha đằm thắm. Vậy thì phải cám ơn mùa Thu. Cám ơn mùa Thu nhiều lắm!



hotinhtam

BIẾT MÙA THU ĐÃ CHÍN

Cỏ chín vàng với mùa thu lìm lịm
Bước chân qua rối cả vạt chiều xa
Em dịu dàng đốt cháy cả đôi ta
Sức thuỷ triều dâng ngập bờ ngập bãi.

Anh lau lách chợt trưa nồng vụng dại
Lạc tuổi đời gặt hái suốt cơn mơ
Chạnh niềm riêng chìm trong nỗi ngu ngơ
Thả sức gió lên cao nguyên của lửa.

Phân thân đến tột cùng không hiểu nữa
Chìm thung sâu nghèn nghẹn mật đồng bằng
Nghe lòng mình thổn thức ánh rằm trăng
Chín đến hết nỗi niềm thu hằng vọng.

Đời phiêu lãng đam mê và khát vọng
Dịu dàng em dậy bão sóng trong anh
Vọng thu tàn xanh ngăn ngắt vòm xanh
Thiên thần thiên thần níu đời anh lại.

Cỏ vàng quá xui rối bời anh mãi
Dịu dàng môi dịu dàng mắt dịu dàng tay
Dịu dàng trao nhau thăm thẳm cơn say
Nhàu nát canh trưa biết mùa thu đã chín.

Dzu

Thứ Tư, 24 tháng 8, 2011

dịu dàng thu- thơ hotinhtam



dịu dàng thu- thơ comment của hotinhtam





"Dịu dàng thu" là một bài thơ comment của Dzu



DỊU DÀNG THU
Hồ Tĩnh Tâm




Mùa Thu như em ùa đến cùng anh

Suối tóc mây xanh đôi mắt hồ xanh

Dịu dàng dịu dàng dịu dàng đến lạ

Nét mơ huyền ươm mơn từng ngọn lá

Xanh ngần lên sau tháng hạ thu về.



Em dịu dàng xui thu chín đê mê

Dìu dặt gió đêm ngực trần đầy lửa

Con sóng vỗ nôn nao ngoài khung cửa

Trái bần rơi gieo thức đến không cùng



Nhập hết vào nhau giai điệu ngân rung

Bến nước con đò ca dao cổ tích

Mùa thu tím trong mắt nhìn tinh nghịch

Gọi nhau đi hun hút nẻo đường trăng



Nẻo phù du lăng lắc chốn vĩnh hằng

Ai áo lụa Hà Đông ta áo vải

Lối cỏ may dệt nên tình nên ngải

Tiếng đỗ quyên khắc khoải khóc đêm tàn



HTT



Thứ Sáu, 29 tháng 6, 2007

chợ nổi -hotinhtam






LÊNH BÊNH
CHỢ NỔI

Hồ Tĩnh Tâm

ba tôi- Hồ Xuân Lai- và đứa cháu ở quê
trên bến sông Hàn (sông Thạch Hãn- sông đá đổ mồ hôi)




Chợ nổi là một nét văn hóa sông nước rất đặc trưng của Nam Bộ. Ở đây, một phần tính cách Nam Bộ được thể hiện khá sâu đậm. Từ lâu, dân gian đã có câu:

Bên dưới có sông, bên trên có chợ
Hai đứa mình kết vợ chồng nghen.

Chợ nổi được hình thành một cách ngẫu nhiên ở những ngã ba, ngã tư, nơi hợp lưu của nhiều dòng sông hay nhiều con kinh lớn. Nhưng không phải ngã ba, ngã tư sông nước nào cũng có chợ nổi. Chợ nổi thường nhen nhúm mọc lên ở những nơi có chợ thị tứ trên bờ. Xét về địa lý, đây là những nơi rất thuận tiện cho việc mua bán, trao đổi hàng hóa, dễ làm ăn phát đạt; bởi vậy mới có câu ca dao in đậm dấu ấn sông nước ấy.
Chợ nổi được hình thành bởi hàng trăn ghe xuồng đủ loại. Từ chiếc xuồng con cho tới ghe tam bản, ghe lườn, ghe chài… lớn nhỏ ken sát vào nhau, đặc ngừ đặc nghịt cả vàm sông. Đó là ghe tứ xứ họp về để trao đổi, mua bán đủ loại nông sản phẩm của miệt đồng, miệt vườn Nam Bộ. Mỗi người một vẻ, lâu ngày trộn vào nhau, làm nên tính cách sông nước đầy nghĩa khí, đùm bọc, bao dung của dân chợ nổi.
Mà thiệt lạ. Chợ nổi chỉ họp từ nửa đêm tới sáng, chừng mặt trời leo dứt con sào là tan. Có phải chợ trên bờ đâu mà bán cả ngày. Chợ dưới sông bán xổi cho nhanh, đặng còn kịp theo con nước, luồn lách xứ này xứ khác, thửa hàng về nhóm chợ. Có klhi ròng rã con nước cả mấy ngày, mấy tuần.
Thời chưa có máy đèn, máy dầu, ghe xuồng mua bán trên sông dùng đèn dầu hôi thắp sáng. Hàng trăm ngọn đèn thắp lên, lung linh huyền ảo. Chỉ chừng đó cũng đủ soi rõ mặt nhau, mà tin nhau, mà áp mạn ghe xuồng vào nhau để ăn hàng, nhả hàng, hay mua bán, đổi chác. Việc nhận ra hàng họ của nhau dễ lắm, bởi ghe nào cũng có cây bẹo cặm ngay đầu mũi hay trên nóc, tùy theo ghe xuồng lớn nhỏ. Cây bẹo làm bằng làm bằng cây tầm vông, cây tre nhỏ, hay cây trúc tầm tầm. Lủng lẳng trên bẹo là mấy nải chuối, mấy trái cam, mấy trái khóm, mấy trái dừa, mấy củ khoai, vài củ sắn, trái bí, bắp cải… Hễ bẹo lủng lẳng thứ gì là bán thứ đó. Có thể bẹo cả con cá còn tươi xoi xói. Gió thổi bẹo lắc lư, ưỡn qua ưỡn lại. Coi xốn con mắt. Con gái mới lớn thích làm duyên, dân thương hồ thường nói: “Bây hỉ mũi chưa sạch, bày đặt xà xảnh bẹo hình bẹo dạng”. Nhắm chừng cũng ngộ.

Do chợ họp về đêm nên chữ tín được xem làm trọng. Thời trước người ta mua mão, bán mão, hay mua chục, bán chục. Mua mão là nhìn cần xé, nhìn rỗ, nhìn mớ mà ước tính hàng họ chừng bi nhiêu. Khi bán mão cũng ước tính hễ có lời chút đỉnh là bán. Ít ai nói thách, ít người trả giá. Nhất nhất cứ áng chừng mà mão với nhau cho chóng vánh. Mua chục đừng tưởng là chục tròn 10 như ngoài Bắc. Chục có thể là 12, 14, 16, 18… tùy theo thức mà tính. Cam, cóc mua trong vườn tính chục 16. Đem bán ở chợ nổi cũng tính y giá như mua, nhưng chục tính theo 14. Vậy là lời hai trái. Hàng họ mua mão cả cần xé, cả ghe, khi bán tính chục cho nhanh, ít ai ở đó ngồi không phân trái to trái nhỏ. Ghe xuồng chòng chành, ngồi lâu mặc cả, chọn lựa đâu có tiện.
Nếu chợ nổi chỉ bi nhiêu đó thì lấy gì thú vị. Đằng này chợ nổi còn có xuồng nhỏ, có cà dom len lỏi bán bún, bán chè, bán tàu phớ, hột vịt lộn, hủ tiếu, và… rượu đế. Ngoắt tay một cái là có xị rượu với con khô mực, hay vài trứng vịt lộn, hoặc tô xương xúp nóng hôi hổi. Muốn chơi sang thì nhảy xuồng bơi vô bờ ngồi quán. Chợ trên bờ còn phong phú hơn nhiều. ‘Nhứt cận thị, nhị cận giang” mà. Lại có cả xuống cạo gió, giác hơi lượn tới lượn lui mời mọc. Thức đêm oải lắm. Giác hơi một cái thấy đã trong người.
Cư dân chợ nổi lênh bênh trên sóng nước qua ngày, qua tháng, qua năm. Có người còn cả đời sông nước. Có gia đình còn mấy đời sông nước. Ơn trời mưa nắng phải thì. Người ta thỉnh ông địa, ông phúc, ông thần tài về thờ ngay dưới xuồng ghe. Nhưng không phải cư dân chợ nổi nào cũng giàu lên vùn vụt. Gặp lúc mưa dầm, gió tạt, hàng họ ế nhệ, lỗ lả trắng dờ con mắt. Nhiều người bẹo đủ thứ hàng cũng sập tiệm.
Với những ghe lớn, cả nhà quanh năm tá túc trên ghe. Người lớn sấp ngửa thi trường đời, sắp nhỏ khó lòng mà thi trường học. Muốn con hay chữ, phải gởi lên bờ. Không đủ tiền gởi con lên bờ, cầm chắc con mình thất học.
Lại còn chuyện trẻ con ốm đau, người lớn chột bụng, làm sao mà tránh khỏi. Giữa nhộn nhịp cảnh mua bán, thỉnh thoảng vẫn nghe lọt lỗ tai tiếng trẻ sơ sinh oa oa khát sữa.
Có chợ tất có rác. Trăm thứ bà dằng đều tống hết xuống sông. Ban đêm chợ nổi lung linh huyền ảo, đẹp như trong cổ tích. Ban ngày chợ nổi phập phều những rác. Những chợ lớn như chợ nổi Trà Ôn, chợ nổi Cái Bè, chợ nổi Phong Điền, chợ nổi Phụng Hiệp… ghe xuồng họp chợ quanh năm, rác thải xuống sông biết bao nhiêu mà kể.
Gần đây, các cấp chính quyền sở tại, ráo riết thi hành nghị định 40 về thiết lập an toàn trật tự trên sông, nhiều chợ nổi phải dạt xa khỏi vàm sông quen thuộc hàng trăm hàng ngàn mét, việc mua bán xem chừng không còn nhộn nhịp, sầm uất như trước. Thân phận giới thương hồ càng lênh bênh sóng nước.
Chạnh nhớ câu ca dao thuở nào:

Bìm bịp kêu nước lớn anh ơi
Buôn bán không lời chèo chống mỏi mê.


H.T.T.

mùi dạ lý

Mùi dạ lý

Hồ Tĩnh Tâm


Kiệt sức trên từng trang sách đêm hôm
Tôi thiếp vào giấc chiêm bao khủng khiếp
Thấy mình bị chống lại từ những điều tốt đẹp
Mình muốn gieo vào cuộc sống của người ta.
Tại sao? Tại sao? Tôi nghĩ không ra
Chẳng lẽ những gì mình muốn dâng tim óc
Lại làm cho ai đó bực dọc!?
Nhưng ai đó chỉ là ai đó mà thôi
Sự khủng khiếp nhân lên như núi như đồi
Đó là sự lặng im của những người không bày tỏ
Một mảy may thái độ dù chỉ như sợi gió
Trước những gì họ chứng kiến
Mà cứ như điều đó chưa từng hiện diện
Nên vết rạn này cứa chảy máu tim tôi.

Quay cuồng trong cơn bão từ duy linh duy lý
Tôi đã lạc sâu vào con đường mộng mị
Cho đến khi bất chợt một làn hương
Tưởng như từ cõi thiên đường
Các thiên sứ của thiện ác gởi xuống
Bức thông điệp không rõ ràng
Về những điều không hẳn trái đất đã cưu mang
Điều đó gõ vào tôi tiếng chuông cảnh tỉnh
Rằng phải biết vượt qua mọi sự đoán định
Bởi trái đất quá chật những những địa tầng vô căn
Đúng và sai chồng chất nhọc nhằn
Đè khái niệm tốt xấu vỡ nát
Bay vào mịt mù miền không còn khái quát
Chỉ còn mình phải đối diện với chính mình
Trả lời với chính mình về kiếp chúng sinh
Đã ban cho đời mùi dạ lý.

Mồng 1 Tết Bính Tuất 2006

Xao xuyến Miền Tây

XAO XUYẾN MIỀN TÂY

hồ tĩnhtâm



“nước chảy quyên quyên
chiếc thuyền em bơi ngược
gắng gượng mái chèo em cất bước theo anh”
ca dao

1. Lối hơn trăm năm về trước, Ông bị nạn ngoài Nam Hải, gắng dựa theo con sóng tấp vô được vàm sông quê tôi rồi khuất. Dân hạ bạc xúm lại quyên tiền lập miểu. Miểu không lớn nhưng hôm sớm nhang đèn lúc nào cũng ngun ngún khói. Linh Ông hiển hiện nhiều lần, cứu giúp không biết bao nhiêu ghe thuyền qua cơn dông gió.
Ngoại nói:
- Ông linh lắm có cầu có được! Sống ở đời, phải có đức tin mới đặng nên người!
Tôi bồ côi cả cha lẫn mẹ, từ nhỏ đã sống lủi thủi với ngoại và dì Bảy. Dì bảy làm nghề buôn bán thương hồ, thường rong ruổi nay đây mai đó; lúc thửa hàng, lúc bán hàng. Trên chiếc ghe lủ khủ chum vại, lủ khủ hàng hóa. Đủ cả dầu đèn, nước mắm, tương chao, khô cá, kim chỉ… Cả truyện tranh Tàu vẽ tích Bao Công xử án, Ngộ Không đại náo thiên cung. Có lúc theo mùa, dì chở trái cây, chở bông, kiểng ra bán ngoài thành. Tới đâu dì cũng đưa tôi theo. Hai dì cháu cứ theo con nước mà đi; lúc miệt này, khi xứ nọ, luồn lách tận hang cùng ngõ hẻm. Những lúc gặp buổi hàng hóa ế nhệ, ghim cây sào bên rặng bần, bên hàng dừa nước, đậu thuyền ngủ lại qua đêm, Bảy thường kể tôi nghe đủ chuyện trên đời. Chuyện buồn nhiều hơn chuyện vui. Chuyện nào tôi nghe cũng thuộc nằm lòng, nhưng vẫn muốn nghe, nhất là những chuyện về đời của Bảy.

2. Năm Bảy mười lăm, Bảy phải lòng anh ký nhà dây thép. Bảy hơn tôi năm tuổi, anh ký nhà dây thép hơn tôi mười tuổi, hai người không giấu tôi chuyện gì. Anh ký nhà dây thép bảnh trai lại có học, thơ tình viết dài cả hai ba trang trên thứ giấy màu hồng có in hình bông mai vàng nhạt ở trên góc trái. Thơ của ảnh, Bảy lận trong bao gối, chờ nửa đêm, khi ngoại ngủ say mới chong đèn ngồi đọc. Một lần, ngoại chột bụng thức dậy đi cầu bắt gặp. Đùng đùng nổi giận, ngoại châm lửa đốt hết cả xấp thư dày mấy lóng tay. Bảy tủi thân, mắc cỡ, khóc ròng mùi mẩm, mấy ngày liền không dám ló mặt khỏi nhà.
Ngoại cấm cửa anh ký, không cho tới nhà, Bảy càng đau khổ. Lựa những lúc ngoại đi vắng, Bảy kéo tôi lội ra miểu Ông thắp nhang khấn vái. Tôi nghe bảy lầm rầm cầu nguyện tình duyên, không hiểu sao cũng ngùi ngùi thương cảm. Tôi nói Bảy biên thơ tôi chuyển giùm cho ảnh, Bảy không dám. Mà anh ký nhà dây thép cũng nhát, chớ có thấy lần nào qua kiếm Bảy. Vườn nhà mênh mông, mịt mù cây tạp, ai thấy được mà sợ.
Phải tới tận ngày anh ký vâng lời cha mẹ cưới vợ ngoài chợ huyện mới dám tới lạy ngoại, xin trồng tặng Bảy hai cây mai chiếu thủy. Hai cây mai đó cành lá bum xum, thân gốc sù sì, hoa nở li ti, trắng xóa cả tứ mùa. Bấy giờ Bảy đã mười tám tuổi.
Ngày anh ký rước dâu, Bảy trốn nhà ra miểu Ông cả đêm. Sợ Bảy làm chuyện dại dột, ngoại biểu tôi theo ra canh chừng. Cả đêm đó, Bảy ngồi qùy chân, úp mặt vô lòng hai bàn tay khóc rưng rức. Ngoài vàm sông, dông kéo cuồn cuộn, sấm chớp ì đùng. Bầu trời chớp nháng chói lói, tưởng chừng sắp rách tanh bành.
Mấy ngày sau, tình cờ đi học về, gặp anh ký dây thép, tôi đem chuyện kể lại, anh ký nói:
- Khổ lắm em à!

3. Tôi không nhớ rõ đêm đó nhằm tháng mấy, chỉ nhớ mang máng đâu trước đám giỗ ông ngoại một vài con trăng. Lúc tôi giật mình thức giấc, chợt nghe có tiếng rì rầm, thổn thức dưới bếp. Linh tính mách tôi lại chuyện dì Bảy. Tò mò, tôi rón rén đi lần chân không xuống bếp. Bảy ngồi gục trong lòng anh ký, khóc rung từng cơn. Anh ký vuốt tóc Bảy, nói lào thào như gió thoảng:
- Vợ chồng anh không yêu mà cưới, đêm nay anh bỏ nhà ra đi, không đặng được ngày về. Chúng mình nếu còn duyên số, sau này Ông sẽ xe cho.
Khi Bảy đã mở sợi lòi tói, lấy chiếc tam bản chở anh ký qua sông, tôi trở lên nhà trên. Ngoại thức từ hồi nào, ngồi chắp bằng trên ván ngựa. Không để tôi kịp sợ, ngoại nói:
- Mầy ra miểu Ông với ngoại!
Sau khi thắp nhang khấn Ông, ngoại trồng một cặp mai trước miểu. Đó là giống mai sáu cánh. Sau này hai cây đó vươn tỏa, trổ bông rực cả một vùng khi giáp tết.

Đêm đó, khi Bảy trở về, Bảy chở theo hai cây mai, đem trồng ngoài sân trước. Rồi từ đó, cứ mỗi năm Bảy lại trồng thêm một cặp mai. Cặp vô chậu, cặp trồng dưới đất. Lâu dần, vườn nhà, sân nhà chỉ toàn những mai là mai.

4. Cho tới một lần, Bảy chèo ghe đi biệt lối hơn hai tuần lễ, lúc trở về, đôi mắt như mất thần. Làm như ngoại sợ Bảy hay sao đó, cả ngày ngoại chỉ lặng lẽ ngồi ngoáy cơi trầu. Mãi tới giờ cơm chiều, Bảy mới nói:
- Ảnh bị lính sư đoàn phục giết ngoài đưng.
Tôi biết ảnh đây là anh ký nhà dây thép.
Không biết ai bắn tin mà Bảy hay, Bảy lặn lội vô đồng đưng tìm được đơn vị của ảnh. Đơn vị thì gặp nhưng người thì không. Mọi người chỉ biết anh ký dây thép cùng với tổ trinh sát đi điều nghiên căn cứ Cái Vồ trở về thì đụng tao ngộ chiến với tụi biệt kích. Hai bên quần nhau từ nữa đêm. Tới hừng đông tụi lính dùng trực thăng đổ quân. Nghe đâu cả gần tiểu đoàn. Năm người mà chỉ tìm được có hai cái xác. Tin nội ứng báo ra, nghi ngờ chúng đem cả ba người bị thương nặng đi thủ tiêu. Tin đặc tình của ta từ trong thành cũng báo ra như vậy. Bảy bán tin bán nghi nên neo lại trong đồng tới hai tuần. Nhờ đó mà Bảy quen được với chú Sáu bông gáo, nhờ chú móc nối cho tôi được thoát ly vào vùng, vừa viết bài vừa dò mo rát cho Tiểu ban báo chí.
Buổi chiều, khi dẫn tôi đi gặp hai chị giao liên, Bảy dặn:
- Mầy vô trỏng, cứ gặp ông già nào tóc bạc trắng như bông gáo, là ngay tróc chú Sáu, nghe chưa?!
Từ đó, theo tiếng súng trận, tôi đi miết, đi miết, không hề một mảy may tin tức về ngoại, về dì Bảy.

5. Ngày quê tôi giải phóng, tôi có trở về làng. Bấy giờ ngoại đã qua đời. Trong căn nhà úp sụp lá dừa nước, chỉ có dì Bảy với một đứa con gái lối mười lăm tuổi. Con bé có gương mặt bầu bầu, với hai con mắt rất to và rất đen. Nước da nó không trắng nhưng cũng không đen lắm. Nó gọi Bảy bằng má.
- Nó tên con Tím, gọi mày bằng anh. Con của ảnh đó! Má nó lấy chồng xì thẩu, Bảy năn nỉ xin đem nó về nuôi từ nhỏ. Nhìn khóe miệng nó nè! Giống ảnh y trang phải hông?
Tôi không thấy con Tím ghé được miếng nào giống tía nó, nhưng tôi cũng cười và gật đầu.
Té ra dì Bảy của tôi vẫn vậy. Vẫn cái ghe thương hồ dọc ngang kiếm sống. Thay bằng tôi trước đây thì bây giờ là con Tím. Con Tím giỏi dắn và lanh lợi nên hàng họ bán rất chạy. Bảy đem con Tím theo lênh đênh sông nước từ khi nó còn bé tí nị. Ghe của Bảy tới đâu cũng có người gắm ghé nhìn nhỏ, bắn tiếng dạm hỏi. Nhưng với ai Bảy cũng lắc đầu, nói thác rằng phải thủ tiết nuôi con. Mỗi chuyến đi dăm ba ngày, cùng lắm cũng chỉ một tuần đổ lại. Tới đâu thấy có mai mọc hoang ngoài vườn, Bảy cũng xin hay cũng tìm cách mua cho kỳ được. Thêm nữa, má ruột con Tím, mỗi năm cứ đúng dịp giỗ chồng, lại chở sang cho Bảy một cây mai. Mai mọc kín từ sân sau tới sân trước, tràn ra cả bờ sông. Mai lấn hết tất cả cây cối trong vườn. Mai chiếm tuốt luốt cả vuông sân lót gạch Tàu từ thời ông cố của tôi để lại.

6. Ngày Bảy lâm trọng bịnh, Bảy bắt con Tím nhắn tôi về cho bằng được.
Trong phút lâm chung, Bảy nắm lấy tay tôi, nước mắt lưng tròng mà không nói được thành lời. Bảy cứ lặng lẽ nhìn tôi bằng đôi mắt càng lúc càng thất thần. Cho tới lúc đôi mắt đã dại hẳn đi, đã ráo không còn một giọt nước, Bảy mới kéo tay tôi đặt lên ngực của Bảy. Tôi cảm thấy ngực Bảy có gì cồm cộm.
Lúc tắm rửa cho Bảy, con Tím và mẹ nó tìm được một lá thư đưa cho tôi. Lá thư được gấp làm tư, bọc rất kỹ trong miếng giấy kiếng đã được hàn kín bằng lửa ngọn đèn dầu. Đó là lá thư của anh ký nhà dây thép gởi cho Bảy lúc đã bỏ nhà thoát ly vào cứ. Nét chữ ố mờ qua năm tháng, nhưng vẫn còn đọc được.
“Bảy à! Anh có tội với cả vợ anh và với em. Anh xin tạ tội trước Chúa. Cầu Chúa ban cho cả hai được bằng an. Con anh cũng là con của em. Còn nếu chúng mình may mắn. Em đặt tên con là Mai. Trai là Khắc Mai. Gái là Thùy Mai”.
Khi tôi đeo kiếng chuẩn bị đọc lá thư ấy, hai mẹ con Tím bỗng ôm chầm lấy nhau mà khóc nấc lên.
Ngoài vàm sông, tiếng còi của một chiếc tàu kéo xà lan bỗng hụ lên dài thườn thượt. Theo tiếng hụ của còi tàu, một cơn gió thảng thốt rùng lên, làm tuôn đổ một trận mai xao xuyến tới chạnh lòng.
Xao xuyến một thời đã qua của dì Bảy tôi.
Xao xuyến miền Tây…

H.T.T.

Cưỡi Rồng


Tiểu phẩm:

CƯỠI RỒNG

Hồ Tĩnh Tâm

Sách SỞ QUỐC TIÊN HIỀN TRUYỆN kể rằng: Hoàng Hiến và Lý Ưng cùng làm quan tư đồ nước Ngụy. Cả hai cùng lấy được con gái thái úy Hoàn Nguyên Thúc. Người đương thời khen hai người con gái họ Hoàn đều được cưỡi rồng, họ Hoàn chọn được rồng.
Bởi vậy, Lê Ngô Cát, Phạm Đình Toái mới viết:

Gần xa nức tiếng cung trang
Thừa long(cưỡi rồng) ai kẻ đông sàng sánh vai.

Theo quan niệm ngày xưa, vợ chồng như vậy là môn đăng hộ đối.
Tôi đọc trong sách THẦN TIÊN TRUYỆN, thấy Phi Trường Phòng gặp vận rồng mây, đến đất Cát Pha, chỉ nhờ nắm cây gậy trúc mà biến thành rồng xanh, đâm ra cứ nghĩ mãi.
Tích xưa kể rằng: ở thượng lưu sông Hoàng Hà(Trung Quốc), có mõm đá giống như hình cái cửa, gọi là Vũ Môn. Nơi đây sóng nước dữ dằn, hàng năm vào tiết tháng ba, cá chép từ khắp nơi tập trung về thi nhảy qua Vũ Môn. Con nào qua được thì hóa rồng. Do đó, cửa Vũ được dùng để chỉ chốn trường thi, ai thi đỗ thì gọi là VƯỢT QUA CỬA VŨ. Việc thi cử ràng ràng là không dễ chút nào.
Chẳng vậy mà ông Tú Hà Nam đã có câu:

Cơm nấu đã sôi mà chửa chín
Thi không ăn ớt thế mà cay.

Ở núi Giăng Màn thuộc huyện Hương Khê, Hà Tĩnh cũng có cửa Vũ. Đây là một dòng suối có ba bậc, nước đổ xiết cuồn cuộn. Vào tháng tư hàng năm, khi có mưa to, cá chép các nơi cũng kéo tới để ngược dòng nhảy qua cửa Vũ. Tương truyền con nào qua được cũng hóa rồng.

Kim ngư đeo ấn ở mình
Cá trông cửa Vũ, rồng giành hột châu

Muốn đỗ đạt thì phải thi. Đã đặt ra trường thi thì phải có phép thi cử nghiêm ngặt, để chọn cho thật đúng người tài. Chứ ai đời lại để lọt vô sổ vàng những ông tiến sĩ bằng giấy như cụ Tam Nguyên Yên Đỗ đã viết:

Cũng cờ cũng biển cũng cân đai
Cũng gọi ông Nghè có kém ai.
Mảnh giấy làm nên thân giáp bảng
Nét son điểm rõ mặt văn khôi.
Tấm thân xiêm áo sao mà nhẹ
Cái giá khoa danh thế mới hời.
Ghế tréo lọng xanh ngồi bảnh chọe
Nghĩ rằng đồ thật hóa đồ chơi.

Thời nay, không ít người tưởng đã đẹp duyên cưỡi rồng, ai dè lại nửa đường đứt gánh. Một là do sự giàu sang đến qúa dễ dàng. Chỉ cần ba bốn bước chân từ cơ quan này qua cơ quan kia, lương bổng đã chênh lệch dăm bảy triệu, chục triệu như không. Hai là nhờ học hành thi cử bằng bia bọt, mà có tàn có tán trong thiên hạ. Thực lực không có thì cũng như con rồng hư danh trong cõi trời đất mà thôi. Lấy gì bảo đảm cho sự lâu dài ở đời.
Xem ra việc cưỡi rồng phiêu diêu miền cực lạc, đôi khi cũng như là giấc điệp mà thôi.

H.T.T.
Địa chỉ liên lạc:
Hồ Tĩnh Tâm
Hội viên Hội Nhà văn Việt Nam
Giáo viên Trường Cao đẳng Sư phạm Vĩnh Long
75 Nguyễn Huệ- Phường 2- Thị xã Vĩnh Long
tỉnh Vĩnh Long

ĐTCQ: 070. 823310
ĐTNR: 070. 821537
ĐTDĐ: 091. 3648732
E-Mail:
hotinhtam@hcm.vnn.vn